Thứ Sáu, 24/11/2006 - 5:57 AM

Làng nghề nghìn tuổi

Giữa buổi trưa nhưng tiếng chao chát của búa nện, của máy mài kim loại đã biến Lý Nhân thành một công xưởng cơ khí tất bật và tràn đầy sức sống. Bám dọc hai bên sống đường của xã, các lò rèn hối hả làm việc cho kịp hàng đặt mối. Mỗi lò tập trung 4 - 5 nhân công làm việc thường xuyên. Thu nhập của một thợ trung bình mỗi tháng đạt từ 7 - 8 trăm ngàn. Đối với thợ lành nghề thì con số này gấp hai hoặc gấp rưỡi (1 - 1.5 triệu/tháng/người).

Con đường vào thôn Bàn Mạch được bê tông hoá tự nó đã nói lên sự khởi sắc của một vùng quê lúa nằm sâu trong Quốc lộ 2 đến 10 km. Bộ mặt nông thôn đã thực sự thay da đổi thịt chính nhờ nghề của cha ông.

Chuyện nghề

Theo lời kể của các bậc tiền bối trong làng thì nghề rèn đã có từ lâu lắm, nó xưa như một điều tất yếu. Trẻ làng rèn sinh ra đã quen mắt quen tai với tiếng búa quai, tiếng ống bễ phì phò thâu đêm suốt sáng... Trong cuốn hương ước của làng, xa xưa Lý Nhân chỉ là một làng thuần nông, những ngày nông nhàn xa cái cày, cái cuốc, người Bàn Mạch lại tìm thú vui trong những cuộc đỏ đen, tìm cái quên trong chén rượu. Đến một ngày có ông quận công về làng, chán cung cách làm ăn của người dân nơi đây mới mượn thầy giỏi về truyền nghề, dạy việc... Nghề rèn Lý Nhân ra đời từ đó. Đến nay, nó không còn là truyền thuyết viện dẫn lí do "khai sinh" của làng mà đã trở thành chuyện miếng cơm, manh áo của hàng ngàn người dân nơi đây.

Tiếp chúng tôi trong căn nhà khang trang với những tiện nghi đắt tiền, cụ Trần Văn Đạm - nguyên Giám đốc Công ty cơ khí Vĩnh Tường những năm 60, bây giờ đã bước sang tuổi "thất thập cổ lai hy" - bồi hồi tâm sự: để có được như ngày hôm nay, nghề rèn Lý Nhân cũng lắm lao đao, hết vào hợp tác xã lại ra tập đoàn, tách - nhập, nhập - tách... Đã có thời kì cả làng phải phá lò, treo ống bễ tưởng như nghề rèn đã mai một, người dân bỏ làng đi tha phương làm thuê, làm mướn. Những người tâm huyết nhớ nghề thi thoảng chỉ bỏ đe, bỏ búa, thổi bếp đánh vài con dao, cái cuốc... rồi lại mải mê tất bật đi làm công cho thiên hạ.


Những hoa lửa bắn tung toé từ chiếc máy mài xoèn xoẹt, những sản phẩm dao, rìu, liềm, hái... liên tục ra lò dưới sự điều khiển thuần thục đến điêu luyện của một bé gái. Không còn cảnh những người đàn ông lực điền xoay trần mồ hôi nhễ nhại quai búa và tiếng ống bễ phì phò như người ta vẫn tưởng tượng về làng rèn Lý Nhân (Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc).


Có lẽ trời không phụ người nên đã dành đất sống cho nghề rèn. Cơn bĩ cực qua đi, nghề rèn trong thời kì kinh tế thị trường được giải phóng khỏi những o ép, khẳng định sức sống của một làng nghề danh tiếng đã từng được Bác Hồ đặt 1.500 con dao tặng cho đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc trước khi tiến hành chiến dịch Biên giới 1950. Nghề rèn Lý Nhân đi lên từ đó...

Chuyện người

Ông Trần Văn Toan - Trưởng thôn Bàn Mạch dẫn chúng tôi đi "thị sát" một số lò có tiếng của làng. Ông cho biết, hiện cả thôn có 600/700 hộ sống bằng nghề "quai búa", chiếm tới 86%. So với nghề nông, thu nhập do nghề rèn mang lại cao gấp nhiều lần và là nguồn thu chính của người dân nơi đây. Năm 2003, GDP toàn xã đạt trên 6 tỷ đồng, cả xã đã cơ bản xoá hết hộ nghèo; hộ khá và hộ giàu tăng nhanh. Nhưng điều đáng nói là Lý Nhân đã nhanh chóng áp dụng khoa học vào sản xuất, từng bước cơ khí hoá làng nghề để tăng năng suất và giảm nhọc nhằn cho người lao động. Các hộ đã tự trang bị cho mình máy mài (máy rèn), máy cán thép, máy cắt gọt kim loại, máy búa có khả năng thay thế 100 - 200 sức người, đưa sản xuất theo hướng tập trung quy mô lớn, dần dần tạo dựng thương hiệu của một làng rèn có hàng ngàn năm khởi nghiệp.

"Sản phẩm của Lý Nhân có chỗ đứng trong thị trường không phải bởi sự lâu năm của lịch sử làng nghề, mà là chất lượng của nó"- ông Toan cho biết. Mặt hàng mà Lý Nhân sản xuất chủ yếu là các nông cụ như liềm, hái, dao, rìu, rựa, dao quắm phát nương cho đồng bào dân tộc... "Chừng nào nghề nông còn tồn tại thì chừng đó còn cần đến sản phẩm của chúng tôi". Nâng con dao lên phía ánh nắng mặt trời, ông Toan chậm rãi: "Nói thật, nhìn nước thép đổi màu chúng tôi có thể nhận ra được đấy có phải là con dao của Lý Nhân hay không, thậm chí có thể gọi tên nó do nhà nào làm ra. Đấy là bí kíp cha ông không sách vở nào dạy hết...". Để có một con dao tốt phải bắt đầu từ giai đoạn tôi. Sắt khối phải vừa tuổi lửa, non quá dễ bị quăn lưỡi, già quá sẽ bị mẻ hoặc rạn. Lý Nhân có phương pháp bổ thép với nước tôi không vùng nào có được. Miếng sắt nung vừa chín tới được bổ đôi để nhồi lưỡi thép vào giữa theo một tỷ lệ phù hợp với trọng lượng sắt. Mài cũng giữ một vai trò quan trọng. Mỗi nhà có một bí kíp riêng. Đôi tai và con mắt của người thợ lâu năm trong nghề chỉ cần nhìn vào hoa lửa bắn ra hoặc nghe tiếng máy kêu cũng có thể biết được sản phẩm đã hoàn thiện hay chưa. Đấy chính là lí do vì sao mà những người vùng khác đến học nghề không thể "lấy" được bí kíp của người thợ Bàn Mạch. Một người

Khu quy hoạch làng nghề Lý Nhân

thợ bình thường một ngày luyện được trên 40 thành phẩm, tính cả xã con số dao rìu rựa ra đời trong một ngày trên dưới 2 vạn chiếc. Từ Lý Nhân, số dao rựa này theo chân các nhà bỏ mối lên mạn ngược hay vào các vùng kinh tế mới Tây Nguyên, trực tiếp tham gia với người trong cuộc mưu sinh.

Và những chuyện... cần giải quyết

Lý Nhân đã có những hộ làm ăn theo quy mô lớn, thuê hàng chục nhân công mở xưởng rèn, xưởng cán thép... Xã cũng mạnh dạn xây dựng cụm công nghiệp làng nghề, xây dựng nhà xưởng và lắp đặt hệ thống điện nước nhưng, bên cạnh lợi nhuận kinh tế, nghề rèn cũng nhiều chuyện phiền lòng. Do thường xuyên tiếp xúc với than lửa, cám sắt từ máy mài, Lý Nhân là xã có tỷ lệ đau mắt hột vào loại cao trong huyện. Đến năm 2003 xã mới cơ bản thanh toán xong dịch đau mắt. Điều đáng buồn là trẻ em của làng do chạy theo lợi nhuận kinh tế trước mắt mà bỏ dở học hành. Đến nhà ông Toan, cô con gái đầu lòng ở tuổi 18 đang là lao động chính của "lò nhà". Khi tôi hỏi về chuyện học, em chỉ im lặng không nói, còn ông Toan thì phân trần: Em nó đã nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình năm nào hay năm ấy rồi lại lấy chồng... Còn những đứa trẻ khác, khi chưa học hết cấp II đã quen tay với với cái đe, cái búa, đã sớm tự định hình cho mình hướng đi là bám lấy nghề rèn mà mưu sinh. Cho nên, ở Lý Nhân có một học sinh đỗ đại học là một chuyện hiếm thấy. Còn những người tâm huyết với nghề rèn như cụ Đạm thì lại luôn day dứt một điều rằng thế hệ trẻ Lý Nhân liệu có giữ được cái gốc của nghề hay không, bởi xu thế chung của làng rèn bây giờ chủ yếu sản xuất những mặt hàng gia dụng hàng ngày, lại sử dụng những cộng cụ máy móc, nó rất dễ làm cho người thợ "cứng tay" mà mai một dần kĩ nghệ của nghề. Trong khi đó, những bậc "lão làng" đã dần khuất núi, số còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đã có thời người thợ rèn Lý Nhân từng rèn những dụng cụ mổ cho bệnh viện hay sản phẩm của làng đã vượt Thái Bình Dương sang nước bạn Cuba... Và những trăn trở ấy vẫn còn lẩn khuất xung quanh những bếp lò vẫn ngày đêm đỏ lửa của làng rèn một ngàn năm tuổi Lý Nhân.

Gửi bình luận của bạn

  • gửi ý kiến

    (Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)

  • Họ tên bạn
    (*)
  • Email
    (*)
  • Nội dung
    (*)
  •