Phần 1: Bao giờ cho đến phiên tòa
Kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003 có hiêu lực, cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) các cấp đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can từ giai đoạn điều tra. Hành trình tố tụng đang từng bước được vận hành theo chiều hướng tốt dần lên.
Xin chưa vội bàn đến nội dung đúng sai của các vụ án, những những câu chuyện có thật được kể lại trong hàng loạt bài viết này đôi lúc đọng lại những dư vị không dễ nguôi ngoai, trong đó có những thân phận là những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh.
Ngày 24/01/2008 tôi vào làm thủ tục để xin gặp bà Trần Thị Giang trong Bệnh viện Trại tạm giam Chí Hòa- người khách hàng khốn khổ của tôi sau khi phiên tòa bị hoãn lại một lần nữa. “Phiên tòa lần này tại sao lại hoãn nữa, thưa luật sư ?”, bà Giang hỏi tôi như cầu cứu. “Mỗi ngày trôi qua, tôi càng cảm thấy khó thở hơn, nhiều đêm phải gọi bác sĩ cấp cứu…” Tôi biết phiên tòa sơ thẩm dự kiến xét xử lại vụ án này bị hoãn vì một bị cáo tại ngoại cùng trong vụ án bị bệnh nặng, không thể từ Hà Nội vào TP.HCM tham dự phiên tòa được. Tôi sẽ nói gì với bà Giang bây giờ, khi việc hoãn phiên tòa là chuyện đặng chẳng đừng, nhưng ở “trong ấy”, sức khỏe của bà ngày càng tồi tệ đi. Nhiều bản kiến nghị khẩn cấp, nhiều buổi làm việc trực tiếp của tôi với những người tiến hành tố tụng cũng không giải quyết được yêu cầu xin giám định sức khỏe và xin tại ngoại để chữa bệnh. Khi sang đăng ký làm việc với điều tra viên trong giai đoạn điều tra lại, có ngàn vạn lý do để tôi không được tham dự một buổi hỏi cung nào. Tệ hại hơn, cả bao nhiêu lần hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát, tôi chưa một lần được tiếp xúc hồ sơ, dưới khuôn mặt khó đăm đăm của một nữ kiểm sát viên. Người đàn bà mang trong mình trái tim có van hai lá nhân tạo được ghép vào cơ thể từ cuộc đại phẫu năm 1998 đến nay vẫn chưa một lần được ánh sáng của luật pháp đoái hoài tới….
Người đàn bà mang trái tim nhân tạo được ghép từ năm 1998 đến nay vẫn chưa một lần được ánh sáng luật pháp đoái hoài tới. |
Câu chuyện tố tụng về vụ án như một cuốn phim đang quay chậm trong đầu tôi. Theo ủy quyền của giám đốc Công ty Prosimex, vào năm 1994 bà Giang ký hợp đồng bán cho Chi cục I Cục dự trữ quốc gia 3.000 tấn gạo, trong đó nhận ứng trước 1,5 tỷ đồng và 20.000 chiếc bao đay. Do Prosimex mới chỉ giao được trên 1.400 tấn gạo và trên 4.000 bao theo gạo, nên khi phát sinh tranh chấp, Chi cục I đã kiện Prosimex ra Tòa kinh tế TAND TP.HCM. Phiên tòa phúc thẩm của TAND tối cao vào năm 1997 tuyên xử, buộc Prosimex phải trả cho Chi cục 1 số tiền gốc 547.765.000 đồng; lãi ngân hàng (tính đến 15-8-1997) là 335.288.777 đồng, tổng cộng 903.053.777 đồng; và 15.927 cái bao đay loại 100kg mới 100%. Từ đó, cơ quan thi hành án đã tiến hành cưỡng chế bằng cách kê biên phong tỏa và cắt chuyển số tiền 85.942,40 USD (quy ra 1.055.228.400 đồng) của Prosimex tại tài khoản Ngân hàng về tài khoản của Phòng thi hành án TPHCM vào năm 1997. Bản án phúc thẩm này bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị và quyết định giám đốc thẩm vào năm 1998 đã cho rằng khi Chi cục I khởi kiện đã vượt quá thời hiệu 22 tháng 8 ngày, từ đó hủy bỏ bản án phúc thẩm. Số tiền Prosimex bị cưỡng chế chuyển cho Chi cục 1, Chi cục I có trách nhiệm hoàn trả cho Prosimex.Số phận pháp lý của bà Trần Thị Giang bước sang một ngã rẽ bi thảm, bởi trong khi quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật chưa được thực thi, Cơ quan điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố, bắt tạm giam bà Giang tại Hà Nội vào ngày 4/6/2003, sau đó di lý vào Trại tạm giam Chí Hòa. Bà Giang bị bệnh hẹp hở van hai lá vôi hóa- hẹp hở van động mạch chủ vôi hóa, đã được Viện tim TP.HCM phẫu thuật vào ngày 29-4-1998 với phương pháp: thay van hai lá AllCarbon số 29 - Thay van động mạch chủ AllCarbon số 23 (Bệnh án số 303 ngày 13-7-1998). Trong nhiều lần vào trại tạm giam làm việc, tôi biết bà Giang thỉnh thoảng bị nghẹt thở, mạch đập mạnh trên cổ, nói rất yếu, phải nhờ phạm nhân cùng phòng báo cấp cứu. Bà nói với tôi: “Các bác sĩ trong Bệnh viện Trại tạm giam quan tâm đến tôi lắm, nhưng mỗi ngày tôi đều phải uống thuốc kháng đông máu, uống thêm thuốc trợ tim, cơ thể thiếu máu nhiều…” Ngay từ năm 2004, chúng tôi đã làm kiến nghị khẩn cấp đề nghị với TAND TP.HCM cho tiến hành giám định pháp y về tình trạng bệnh tật của bà Giang, được Tòa án chấp nhận và Bệnh viện trại tạm giam báo cáo tại văn bản số 500 ngày 30/8/2004:“Can phạm có tiền căn hẹp hở van hai lá, van động mạch chủ đã được thay van năm 1998. Hiện tại đang được theo dõi và tái khám định kỳ tại Viện tim. Khám hiện tại: Mạch 84 lần/ phút; huyết áp 110/70mmHg. Tỉnh táo tiếp xúc tốt, không đau ngực, không khó thở. Thỉnh thoảng có cơn mệt khi gắng sức… Kết luận: hẹp hở van hai lá, van động mạch chủ đã thay van nhân tạo; hiện tại bệnh ổn định; hẹn tái khám tại Viện tim ngày 23/9/2004.”
Sau gần 2 năm điều tra, bản án sơ thẩm số 767 ngày 18/5/2005 của TAND TP.HCM đã tuyên phạt bà Trần Thị Giang 8 năm tù về tội “tham ô tài sản”. Sau khi có kháng cáo của bà Giang cho rằng mình không phạm tội tham ô, kháng nghị của VKSND TP.HCM đề nghị tăng án, vào ngày 13/6/2006, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nói trên để tiến hành điều tra xét xử lại theo thủ tục chung. Khi gặp tôi, bà Giang than thở: “Tôi chỉ được làm việc vài buổi với điều tra viên, nhưng bây giờ quá trình điều tra lại mất thêm gần 2 năm nữa, tôi biết phải làm sao đây? Luật sư làm cách nào cho tôi xin tại ngoại chữa bệnh được không?” Những lời nói trong tận cùng xót xa như xoáy sâu vào tâm khảm của tôi. Chắc chắn rồi nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến vụ án sẽ còn phải được tranh luận thấu đáo để chứng minh bà Giang có tội hay không, mối quan hệ giữa quyết định giám đốc thẩm đã có hiệu lực với trình tự tố tụng hình sự sẽ được giải quyết thế nào… Chỉ biết mỗi mùa đông lạnh giá qua đi, từ ngoài Hà Nội, ông Trần Văn Soạn, nguyên Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), nguyên Phó Tổng Thanh tra Nhà nước, 60 năm tuổi Đảng, cha ruột của bà Giang, lại ngồi nhìn qua khung cửa căn phòng trên chung cư Đại học Bách Khoa, nghĩ về “đứa con bệnh tật” của mình. Ông đã nhiều lần làm đơn kêu cứu khẩn thiết gửi đến các cấp lãnh đạo Trung ương và TP.HCM. Ông viết: “Các cơ quan tiến hành tố tụng đã hình sự hóa việc tranh chấp hợp đồng kinh tế đã được giải quyết bằng một quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật.” Ủy ban pháp luật Quốc hội khóa XI cũng có văn bản đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét kiến nghị của ông Trần Văn Soạn.
Đối chiếu với Bản quy định tiêu chuẩn mất sức lao động do bệnh tật ban hành kèm theo Thông tư liên Bộ số 12 ngày 26/7/1995 của Bộ Y tế, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, thì tại nhóm IX các bệnh về tuần hoàn quy định “các bệnh, các tổn thương van tim, màng tim, cơ tim có mổ hoặc không mổ, trường hợp không có dấu hiệu suy tim được xác định tỷ lệ mất sức lao động là 35-40%; còn trong trường hợp có suy tim, tỷ lệ cao nhất lên tới 81-85%…,” bà Trần Thị Giang thuộc trường hợp bệnh nặng.
Bản thân tôi cũng biết rõ một số trường hợp bị bệnh tim đã bị chết trong trại tạm giam (như Nguyễn L. trong kỳ án Đặng Nam Trung), hay sau khi được tại ngoại một thời gian ngắn thì mất (như ông Nguyễn S.N. trong vụ án liên quan Sài Gòn P.), nên hết sức lo lắng. Khi nhận được giấy báo tin của VKSND TP.HCM ngày 19/9/2006 gửi cho tôi cho rằng: “Do vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải tiếp tục tạm giam bị can Trần Thị Giang để cơ quan điều tra làm rõ hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án. Vì vậy không thể giải quyết cho Trần Thị Giang tại ngoại theo yêu cầu của luật sư và gia đình bị can,” tôi lặng im không nói được nên lời. Mặc dù mới đây, qua hồ sơ tôi biết lãnh đạo VKSND TP.HCM khi nhận đơn của ông Trần Văn Soạn, cũng đã chỉ đạo “đơn này phải làm ngay, đừng để kéo dài”, nhưng đã hơn 5 năm 3 tháng kể từ ngày bị bắt tạm giam và 12 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp, hành trình tố tụng tưởng chừng như có lúc đông đặc lại. Bao giờ cho đến… phiên tòa để mọi sự được bày tỏ rõ ràng ?
Kỳ sau: “Chiếc lá cuối cùng…”
Ghi chép của TS, LS Phan Trung Hoài