Khi trao đổi với DĐDN, Luật sư Thomas J. Treutler, cố vấn cao cấp cho hãng luật quốc tế Tilleke & Gibbins tại Việt Nam khẳng định hệ thống luật pháp về quyền SHTT của Việt Nam ngày càng phù hợp hơn với luật pháp quốc tế và lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này đang dần được củng cố.

Theo luật sư Thomas J. Treutler, cơ sở tạo nên lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài chính là việc Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý cho việc thực thi quyền SHTT. Tuy nhiên, luật sư cũng cho rằng để việc thực thi về SHTT tốt hơn, Việt Nam có thể lập một toà án chuyên về vấn đề này.

- Đa số luật sư đang hoạt động tại Việt Nam thường là cầu nối đưa đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhưng ông lại đang giúp các doanh nghiệp Việt Nam vươn dài cánh tay đưa sản phẩm ra nước ngoài. Lý do chính của việc này, thưa ông?

Tôi được biết nhiều sản phẩm Việt Nam, trong đó có bản quyền âm nhạc bị đánh cắp và bán ở nước ngoài, do các doanh nghiệp Việt Nam không đăng ký bản quyền nên họ đã bị mất một nguồn doanh thu rất lớn. Việc kiện bản quyền nói chung ở nước ngoài và ở Mỹ nói riêng rất dễ. Tôi muốn giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động tại thị trường nước ngoài.

Hiện tôi đã giúp một số Cty Việt Nam đăng ký SHTT ở nước ngoài, hoạt động trong các lĩnh vực: thực phẩm, dịch vụ, du lịch, âm nhạc... có thể thời gian tới sẽ đăng ký các lĩnh vực khác như bản quyền phần mềm chẳng hạn.

- Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp thực hiện tốt bản quyền SHTT không chỉ có doanh thu tốt hơn mà cơ hội tiếp cận thị trường theo con đường chính ngạch lại càng tốt hơn?

Đúng vậy! nếu doanh nghiệp Việt Nam không đăng ký bản quyền ở nước ngoài họ sẽ bị mất quyền lợi và có thể người khác sẽ đăng ký. Thường việc đăng ký ở nước ngoài là bước đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải làm, bởi vì có thể do không biết nên chính sản phẩm của doanh nghiệp đó ở nước sở tại đã có đơn vị khác đăng ký, nếu họ biết trước điều đó thì có thể họ sẽ tránh được rất nhiều phiền phức sau này. doanh nghiệp Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ xem sản phẩm của họ có vi phạm bản quyền ở nước đó không.

- Thưa ông, thực ra vấn đề này không phải là các doanh nghiệp Việt Nam không biết. Nhiều doanh nghiệp ngại đăng ký vì sợ tốn tiền, mất thời gian...?

Thực ra không hề tốn tiền chút nào, ví dụ đăng ký ở Mỹ không quá 1.000 USD, thông thường phí của Chính phủ khoảng 3 - 400 USD, còn luật sư khoảng 500 USD.

Nếu có truờng hợp khó khăn do có một doanh nghiệp nào đó ở nước sở tại phản đối thì có thể phí đắt hơn do phải thuê luật sư, tư vấn... còn thông thường chỉ khoảng 1.000 USD là đủ.

Hiện nay, tôi thấy số lượng doanh nghiệp Việt Nam đăng ký nhãn hiệu chưa nhiều, đa số là các doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực: dệt may, dầu khí... còn các DNNVV có vẻ còn ít.

- Đã có nhiều sản phẩm uy tín của Việt Nam bị mất bản quyền tại Mỹ. Thế còn tình trạng hàng nhái, hàng giả thì sao, thưa ông?

Nếu anh đi dạo phố ở khu vực Little Saigon hay một số nơi khác, anh sẽ thấy rất nhiều sản phẩm, đặc biệt là âm nhạc của Việt Nam đã bị sao chép và bán vô tội vạ với giá rất rẻ. Nhưng ở Việt Nam thì vi phạm bản quyền trong phim ảnh và âm nhạc rất phổ biến. Theo tôi, giờ đã có hành lang pháp luật rất tốt để bảo vệ quyền lợi của các chủ bản quyền. Trách nhiệm chính theo tôi là thuộc về các chủ sở hữu, họ phải nộp đơn kiện ra toà, họ có quyền kiện những người vi phạm ở Việt Nam. Ngoài ra phần mềm lậu ở Việt Nam cũng khá phổ biến, mặc dù Chính phủ đã có nhiều cố gắng nhưng cái gì cũng phải thay đổi từ từ, đồng thời việc tuyên truyền cũng phải tốt hơn.

- Vậy ông có lời khuyên nào cho các doanh nghiệp Việt Nam?

Theo tôi, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy việc thực thi luật pháp về quyền SHTT đặc biệt là trong cộng đồng doanh nghiệp vì đây là yếu tố bước đầu để giúp họ có thể đứng vững và tránh bị bị kiện vì xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa. Tôi được biết, để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vấn đề này, Việt Nam đang tiến hành một chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp tạo ra, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ từ 2005 đến năm 2010. Cục SHTT thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ còn xây dựng mạng thông tin SHTT trong cả nước và thư viện điện tử bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Ngoài ra, theo tôi để có thể làm tốt vấn đề này hơn nữa, Việt Nam nên lập một toà án chuyên về SHTT. đây là một lĩnh vực rất phức tạp, trước mắt có thể lập toà án ở một số tỉnh thành lớn như: Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng... và có những thẩm phán chuyên về SHTT. Tôi nghĩ các chủ sở hữu sẽ có lòng tin tốt hơn vào kết quả và có thể họ sẽ đưa các vụ kiện lên toà án. Bây giờ trách nhiệm không hoàn toàn là của Nhà nước mà còn của các chủ sở hữu. nhiều chủ sở hữu về SHTT cứ than phiền là việc thực thi SHTT ở Việt Nam không không tốt. ngay chính bản thân họ cũng không nộp đơn kiện, như vậy chính họ cũng vô trách nhiệm. Theo tôi đây có thể là một vấn đề lớn, có thể do họ chưa có niềm tin vào khả năng thắng nếu khởi kiện. Nếu có toà án chuyên sâu chắc chắn mọi việc sẽ khác!

- Xin cảm ơn ông!

Quốc Anh thực hiện