Trước đây, tỷ giá hối đoái vẫn được xác định thông qua tương quan lạm phát và duy trì sự "ngang giá sức mua" của đồng tiền hai quốc gia. Nhưng nay tình hình đã khác.Tỷ giá hối đoái đã tách rời khỏi sự ngang bằng sức mua và thậm chí tương quan lạm phát giữa hai nước vì:

Sự thay đổi về cơ cấu giữa các nền kinh tế, các giá trị tương đối của nhiều hàng hoá đã thay đổi cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp mới làm thay đổi giá trị trao đổi thực tế so với các giá trị dự kiến.

Có những sự vận động về vốn chảy vào những nước có lãi suất cao, làm mất cân đối dự trữ ngoại hối giữa các quốc gia, đẩy tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ lên bất kể các điều kiện thương mại.

Sự quốc tế hoá mạnh mẽ của đồng đô la cùng với sự thành lập của hệ thống đồng tiền chung Châu Âu, cộng với tiến trình toàn cầu hoá làm các nền kinh tế quốc gia tích hợp lại với nhau, đã làm cho tương quan lạm phát giữa hai nước không còn chính xác khi tham gia vào công thức tính toán tỷ giá hối đoái. Hãy thử tính xem dự trữ USD và EUR tại các quốc gia trên thế giới là bao nhiêu - phải lớn hơn nhiều GDP của bản thân nước ban hành ra đồng tiền đó.

Trong tính toán tỷ giá USD/VND thực, Việt Nam nên đưa chỉ số USD Index vào làm một tham số.

Đầu cơ tiền tệ quốc tế cũng làm tăng và giảm khá lớn các tỷ giá hối đoái và những thay đổi này không liên quan tới các điều kiện thương mại.

Khi lạm phát dầu mỏ - ngoài vai trò năng lượng còn là một loại nguyên liệu đặc biệt nằm trong cơ cấu của rất nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm khác - là nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát của đa số các nước trên thế giới, đã khiến lạm phát trở thành vấn đề toàn cầu, có tính toàn cầu và còn có thể xuất khẩu hay nhập khẩu được.

Khi USD được di chuyển tự do qua biên giới và nằm lại trong dự trữ ngoại hối của các quốc gia khác thì Mỹ sẽ dễ dàng đưa thêm tiền vào lưu thông quốc tế mà vẫn kiểm soát được số lượng tiền lưu thông trong nước, do vậy giữ được tỷ lệ lạm phát khiêm tốn nội địa. Mỹ có thể đẩy tiền thừa ra khỏi biên giới bằng các hình thức nhập khẩu hoặc đầu tư ra nước ngoài, v.v.. Người ta nói Mỹ đã xuất khẩu lạm phát. Trước nguy cơ giá dầu tăng cao như hiện nay, Mỹ đã chủ động phá giá USD để nhằm kiểm soát giá thành và tỷ lệ lạm phát trong nước. Chính vì thế ta mới hiểu tại sao Mỹ luôn ép OPEC sử dụng USD trong thanh toán giá dầu mỏ. Mỹ có thể chủ động phá giá USD bao nhiêu % tuỳ thích thông qua rất nhiều công cụ tiền tệ khác nhau. Khi tỷ lệ lạm phát của Mỹ không còn chính xác trong công thức tính toán tỷ giá hối đoái thực tế, người ta đã nghĩ ra một chỉ số gọi là USD Index để tính lại giá trị của đồng tiền này thông qua một rổ ngoại tệ mạnh. Trong hơn một năm qua, USD Index liên tục giảm song hành với việc giá dầu thô tăng. USD mất giá còn là nguyên nhân chính khiến hầu hết các mặt hàng trên thế giới định giá thông qua đồng tiền này tăng lên liên tục.

Việt Nam là một trong những nước phụ thuộc rất nhiều vào hàng nhập khẩu, dùng USD là đồng tiền thanh toán chủ yếu, hơn nữa, USD lại là đồng tiền bản lề để tính tỷ giá hối đoái với tất cả các ngoại tệ khác. Nên một trong những lý do dẫn đến lạm phát trong nước xuất phát từ chính sách USD mạnh dẫn tới sự tăng giá nhân lên gấp bội của tất cả các mặt hàng nhập khẩu, đây là nguyên nhân bất khả kháng bên ngoài nền kinh tế. Ngay cả khi Nhà nước thắt chặt tiền tệ, lạm phát "chi phí đẩy" do hàng hoá nhập khẩu tăng giá vẫn tiếp tục xảy ra chừng nào sự sốt giá dầu thô trên thế giới chưa dừng lại. Khi biện pháp phá giá VND để tăng cường xuất khẩu chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, việc giữ và nâng giá đồng nội tệ nhằm chống lạm phát mới là giải pháp lâu dài. Thiết nghĩ, trong tính toán tỷ giá USD/VND thực, Việt Nam nên đưa chỉ số USD Index vào làm một tham số. Trường hợp ngược lại, nếu ta bỏ qua yếu tố mất giá của đô la Mỹ trên thị trường thế giới, vô hình trung Việt Nam đã nhập khẩu lạm.

Phạm Trung