Thời gian qua, 8 nhóm giải pháp của Chính phủ để kiềm chế lạm phát đã có tác dụng với kết quả chỉ số CPI tháng 6 chỉ tăng 2,14%- thấp nhất trong vòng 7 tháng qua. Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích, để tiếp tục kiềm chế lạm phát trong 6 tháng cuối năm, không nên chỉ bó hẹp trong thị trường giá cả hàng hóa dịch vụ tiêu dùng mà còn hiểu rộng bao gồm cả thị trường giá cả tín dụng ngân hàng tài chính – lãi suất, thị trường ngoại hối - tỷ giá hối đoái và thị trường lao động - tiền lương, tiền công. Ngoài ra cũng không thể bỏ qua hai thị trường đặc biệt là thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.
Lạm phát do yếu tố tâm lý
Tính đến hết tháng 6/2008, CPI đã tăng tới 26,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,44% so với cuối năm 2007. Theo những dự báo lạc quan nhất, CPI cả năm 2008 ở mức 22% (Bộ KH&ĐT)hoặc 25-30%, song thật không dễ dàng kiềm chế lạm phát ở mức độ này.
Theo PGS. TS. Ngô Trí Long -Viện NCKH thị trường giá cả, lạm phát hiện nay ở Việt Nam không phải chủ yếu do sự mất cân đối giữa cung và cầu hàng hoá như những năm 80. Trên thị trường cung luôn đáp ứng cầu nhưng tốc độ tiêu dùng tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện mức bán lẻ tăng hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP. Qua diễn biến giá cả 6 tháng đầu năm cho thấy, tất cả các cơn sốt giá từ đầu năm cho tới nay đều không phải do nguyên nhân cung cầu mất cân đối mà chủ yếu do yếu tố đầu cơ và tâm lý. Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ Giá cả (Tổng cục Thống kê) Nguyễn Đức Thắng cũng cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, tâm lý của người dân là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tình hình lạm phát. Lạm phát có thể trầm trọng hơn nếu lạm phát kỳ vọng từ phía người dân cao. Trong tình hình hiện nay, khi giá cả thị trường tăng cao, để bảo toàn vốn của mình, các nhà đầu tư cũng như dân chúng đã chuyển sang mua vàng, kim loại quý mà không dùng vốn đó vào kinh doanh hoặc đầu tư cho sản xuất. Với những tin đồn thiếu lương thực vào cuối tháng 4 vừa qua đã gây ra cơn sốt giá gạo kéo theo CPI tháng 5 tăng mạnh nhất trong 15 năm trở lại đây.
Tổng cục Thống kê đưa ra 3 kịch bản về CPI năm 2008: -Nếu 6 tháng còn lại, CPI mỗi tháng chỉ tăng trung bình 1% so với tháng trước thì lạm phát tháng 12/2008 so với tháng 12/2007 tăng khoảng 25%. - CPI mỗi tháng tăng 1,2% so với tháng trước thì tháng 12/2008 so với cùng kỳ năm 2007 sẽ tăng khoảng 27,25%. - Nếu mỗi tháng tăng 1,5% thì lạm phát có thể tăng khoảng 30% |
Các chuyên gia đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát trong thời gian qua, chẳng hạn như: do đầu tư kém hiệu quả làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm và của nền kinh tế thấp. Hiện nay, mức đầu tư từ NSNN khoảng 20% GDP. Tổng đầu tư xã hội khoảng 40,2%, một mức cao so với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng hiệu quả không cao. Khả năng cạnh tranh của các DN còn hạn chế, thông qua chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.... Theo bà Nguyễn Thị Thu có 2 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát của Việt Nam tăng cao, đó là, do tác động từ bối cảnh kinh tế toàn cầu như giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng; Trong bối cảnh đó, một khối lượng tiền lớn được đưa ra nền kinh tế toàn cầu ( riêng Mỹ từ tháng 8/2007 đến tháng 3/2008 đã đưa ra trên 2.300 tỷ USD, trong đó có 800 tỷ USD tiền mặt để cứu vãn hệ thống ngân hàng; Ngân hàng TW châu Âu, Nhật Bản, Anh cũng phải đưa ra một lượng tiền lớn để cứu vãn nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng...). Việc cứu vãn nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái bằng biện pháp đưa hàng nghìn tỷ USD ra nền kinh tế toàn cầu lại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tục tăng cao.
Ngoài yếu tố thế giới, các nguyên nhân từ chính nội tại nền kinh tế Việt Nam như: chi phí sản xuất tăng cao; giá cả lương thực, thực phẩm tăng cao; chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ 2001-2007 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh là áp lực lên tổng phương tiện thanh toán đã góp phần cho lạm phát của Việt Nam tăng cao.
Linh hoạt trong điều hành
Theo TS Vũ Đình Ánh, nền kinh tế nước ta vẫn đang đứng trước hàng loạt khó khăn, thách thức như biến động khôn lường của thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường dầu mỏ, sắt thép, lương thực; tác động của thắt chặt tiền tệ tới tính thanh khoản và khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại; biến động thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái; thị trường chứng khoán và thị trường BĐS thiếu lành mạnh; một số thị trường cục bộ vượt khỏi tầm quản lý, phát sinh hiện tượng đầu cơ, buôn lậu... Trong khi đó, các giải pháp về quản lý thị trường và giá cả nhằm kiềm chế lạm phát còn chưa toàn diện, hiệu quả thấp và chưa phù hợp với trình độ và mức độ phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
Chính phủ và các bộ ngành chức năng đã có hàng loạt chính sách đối phó với lạm phát, điển hình nhất là 8 nhóm giải pháp theo Nghị quyết 10/2008, trong đó nổi bật là chính sách thắt chặt tiền tệ với việc liên tục điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn(đi đôi với việc phục hồi hiệu lự của lãi suất cơ bản). Bên cạnh đó, chính sách tài khoá thắt chặt, kiềm chế nhập siêu, quản lý thị trường, ổn định giá cả một số mặt hàng chiến lược... cũng được triển khai và đã đạt được những kết quả ban đầu. CPI tháng 6 chỉ tăng 2,14%- thấp nhất trong vòng 7 tháng qua. |
PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, để kiềm chế lạm phát trong những tháng còn lại của năm 2008 chúng ta phải áp dụng đồng bộ 8 nhóm giải pháp của Chính phủ một cách thận trọng, kiên quyết. Kịch bản chống lạm phát của Chính phủ khá hoàn chỉnh, có liên quan đến các Bộ, ngành, các địa phương và toàn xã hội. Các cấp các ngành trên cơ sở đó có đề án, biện pháp thiết thực và hiệu quả. Trên giác độ về những giải pháp quản lý thị trường, giá cả, ông Long đã đưa ra những biện pháp nhằm góp phần kiềm chế lạm phát nước ta như: kiểm soát tốt thị trường, chống buôn lậu, chống đầu cơ găm hàng tăng giá; phải có một hệ thống phân phối đủ mạnh, hiệu quả góp phần ổn định giá cả tiêu dùng; tăng cường dự trữ quốc gia nhất là lương thực thực phẩm, năng lượng, một số vật tư, hàng hóa quan trọng để chủ động đối phó với mọi tình huống; trong điều kiện giá cả thế giới luôn biến động phức tạp, cần theo dõi và thông tin kịp thời chính xác giá cả của những hàng hóa vật tư có liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta…
Theo ông Nguyễn Đức Thắng, tốc độ tăng giá tuy đã chững lại nhưng giá cả hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống đều đứng ở mức cao và nhìn chung tính ổn định thấp nên rất dễ tiếp tục tăng cao. Do đó không được chủ quan trong điều hành kinh tế vĩ mô: Tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát chặt chẽ hoạt động thương mại, chống buôn lậu; Có cơ chế giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nói riêng; ...
Các chuyên gia cũng cho rằng, đối với công tác quản lý giá, cần có biện pháp cụ thể để kiểm soát giá những mặt hàng tăng giá quá nhanh, đặc biệt là việc kiểm soát chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm của những loại hàng hoá dịch vụ độc quyền có liên quan đến sản xuất và dân sinh… Nghiêm khắc trừng trị những kẻ xấu tung tin thất thiệt làm cho thị trường mất ổn định, giá cả tăng đột biến.
PGS.TS Nguyễn Thị Mùi – PGĐ Học viện Tài chính cho rằng, điều hành lãi suất và tín dụng hợp lý là một biện pháp quan trọng nhằm kiềm chế lạm phát. Theo Bà Mùi, kiềm chế lạm phát đến nay đã có tác dụng bước đầu song một điều dễ nhận thấy là những dấu hiệu của bất ổn kinh tế vĩ mô chưa thuyên giảm, nhập siêu vẫn rất lớn, thâm hụt thương mại cao, trong khi một số doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất, xuất khẩu. Vì vậy, những tháng còn lại của năm 2008, tín dụng và lãi suất của NHNN cần được điều hành hợp lý hơn để vừa kiểm soát được lạm phát, vừa tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, vừa góp phần ổn định vĩ mô.
Ông Vũ Vinh Phú -Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội: Về hệ thống phân phối quốc gia, ở đây có bài toán dự trữ hàng hoá vai trò của các tâp đoàn thương mại nhà nước. Đã lưu thông là phải có dự trữ, quốc gia nào cũng vậy.Các DN thương mại quốc doanh nhất là các tập đoàn và TCty luôn có hai quỹ hàng hoá: Một quỹ hàng hoá kinh doanh bình thường, đơn vị phải hạch toán lỗ lãi và chịu trách nhiệm trước nhà nước. Một quỹ hàng hoá lấy kinh phí từ quỹ bình ổn giá của nhà nước, địa phương giao cho DN để dự trữ, luân chuyển đề phòng những lúc cần thiết, can thiệp thị trường có hiệu quả. Phải xây dựng các chuỗi phân phối hàng hoá từ sản xuất, nhập khẩu đến bán buôn và bản lẻ. Trước mắt gồm 3 chuỗi: Một chuỗi phụ trách các hàng vật tư chiến lược như xăng dầu, xi măng, sắt thép, ga, phân bón...; Một chuỗi phụ trách các mặt hàng lương thực, thực phẩm như gạo, muối, thịt lợn, cá, sữa, thuốc chữa bệnh,..; Một chuỗi bao gồm các dịch vụ quan trọng như nước sạch, khám chữa bệnh... Ngoài ra cần công bố thông tin một cách thường xuyên cho các nhà đầu tư, DN và nhân dân được biết những thông tin cần thiết về hàng hoá và giá cả trên nguyên tắc: minh bạch, kịp thời, dễ tiếp cận... Ông Trần Ngọc Thiều – TCTY lương thực miền Bắc VN là quốc gia XK gạo đứng thứ 3 trên thế giới, song để đảm bảo an ninh lương thực cần phải có chính sách đúng đắn về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhất là những vùng trọng điểm sản xuẩt lương thực như tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, trợ giá cho các vùng sản xuất khi bị thiên tai, đầu tư cho công tác giống, khuyến nông; Hạn chế việc sử dụng đất lúa vào các nhu cầu khác, tăng cường thâm canh, tăng năng suất; Đẩy mạnh công nghiệp chế biến, phát triển công nghệ thu hoạch, sau thu hoạch; khuyến khích phát triển chăn nuôi; Chủ động tổ chức lại hệ thống điều phối thu mua, chế biến, bảo quản kho gạo dự trữ, quản lý thị trường lương thực trong nước để sẵn sàng đối phó với những diễn biến bất thường về lương thực. Củng cố, phát huy vai trò chủ đạo đúng nghĩa của các DN nhà nước trong kinh doanh điều phối lương thực trên phạm vi cả nước để có chính sách can thiệp thị trường lương thực khi cần thiết, tránh đầu cơ nâng giá bán gây khan hiếm giả tạo và ép giá nông dân. |
Hoàng Oanh