Công ty cổ phần (CTCP) Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT được giới đầu tư rất quan tâm với tư cách là một cổ phiếu bluechips cấu thành VN-Index. Do vậy, kết quả kinh doanh (KQKD) của FPT luôn là chủ đề "nóng hổi" thu hút nhà đầu tư và công luận mỗi khi vừa được công bố.
Mặc dù có những kết quả đáng tự hào trong 2 quý đầu năm 2008 nhưng liệu FPT có lập nên cú "hat-trick" trong quý 3 và xa hơn là quý cuối cùng của năm hay không khi mà yếu tố cạnh tranh trên thị trường CNTT đang ngày càng gay gắt và nền kinh tế dù đã bước đầu được cải thiện song vẫn có nhiều khó khăn trước mắt.
Nguồn chủ yếu tạo doanh thu cho FPT tập trung vào 5 mảng chính: Phân phối; Tích hợp hệ thống; Xuất khẩu phần mềm; Telecom và Đào tạo. Ngoài ra còn có những mảng hoạt động "tay trái" khác mang lại doanh thu khiêm tốn hơn như bất động sản, ngân hàng...
Nhìn vào cấu trúc doanh thu của FPT có thể thấy hiện nay, mảng đem lại doanh thu chủ yếu là hoạt động phân phối, chiếm tới hơn 70% tổng doanh thu toàn Tập đoàn. Con số này đã giảm nhưng không đáng kể so với tỷ trọng khoảng 75% tổng doanh thu vào năm 2007. Tích hợp hệ thống và Telecom là 2 mảng chiếm tỷ trọng lớn tiếp theo trong tổng doanh thu của Tập đoàn. Thế nhưng mảng đem lại doanh thu lớn nhất cũng chính là mảng đem về tỷ suất lợi nhuận nhỏ nhất với 4,33%, trong khi 2 mảng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất lại mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất như đào tạo, xuất khẩu phần mềm. Liệu những con số này sẽ thay đổi như thế nào trong 2 quý còn lại của năm 2008?
Hoạt động Phân phối và Tích hợp hệ thống
Phân phối và Tích hợp hệ thống là 2 mảng doanh thu nhiều năm liền chiếm tỷ trọng lớn nhất, doanh thu của FPT lệ thuộc chủ yếu vào hoạt động phân phối và phân phối điện thoại di động chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo là phân phối phần mềm và các sản phẩm công nghệ thông tin khác.
Mặc dù chiếm tỷ lệ doanh thu lớn, nhưng doanh số từ hoạt động phân phối điện thoại di động của FPT có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất, lại đang đối mặt với nguy cơ bị pha loãng do sự xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh mới như: PV Telecom với phân khúc thị trường ở những tỉnh nhỏ, khu vực ngoại thành Hà Nội và TP HCM; Viettel với dòng sản phẩm cấp thấp của Samsung và mới đây là BlackBerry, Thành Công Mobile với dòng điện thoại Panasonic, An Bình Mobile với BenQ Siemens và HTC..., trong đó hai đối thủ đáng gờm nhất là PV Telecom thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Viettel.

Như vậy, có thể dự đoán trong vài năm tới, thị trường phân phối điện thoại di động sẽ có sự thay đổi về thị phần rõ rệt, trong đó PV Telecom chiếm lĩnh thị trường nông thôn, Viettel Mobile chiếm lĩnh phân khúc dòng điện thoại giá rẻ bên cạnh dòng BlackBerry danh giá, còn FPT sẽ "tung hoành" trong phân khúc thị trường cao cấp như Smart phone, PDA... tại các thành phố lớn.
Song song với phân phối điện thoại di động, mảng phân phối phần mềm và các sản phẩm công nghệ thông tin khác của FPT cũng gặp phải không ít khó khăn từ phía các đối thủ cạnh tranh tầm cỡ, lớn nhất là CMC và Trần Anh.
Trước sức ép cạnh tranh ngày càng tăng cao không những từ phía các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài sau khi Chính phủ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép tham gia lĩnh vực phân phối tại Việt Nam từ năm 2009, doanh thu của FPT từ hoạt động phân phối có thể vẫn tăng trưởng song với tốc độ chậm lại và tỷ suất lợi nhuận thu được nhiều khả năng sẽ giảm xuống thấp hơn.
Mức doanh số chiếm tỷ trọng lớn thứ hai của Tập đoàn FPT chính là dịch vụ tích hợp hệ thống, một dịch vụ truyền thống của FPT chiếm 13,69% tổng doanh thu nhưng cũng chỉ đem lại tỷ suất lợi nhuận ở mức thấp 8,55%.
Tập đoàn FPT mà cụ thể là FPT-IS hiện là Cty tích hợp hệ thống và là nhà cung ứng giải pháp số 1 tại Việt Nam. Cty đã triển khai thành công hàng ngàn dự án cho các tổ chức tài chính, bảo hiểm, các cơ quan Chính phủ.
Hiện nay, ngoài FPT-IS thì CMC-SI cũng là một nhà cung ứng sừng sỏ dịch vụ tích hợp hệ thống cạnh tranh gay gắt để giành giật thị phần với FPT. Với việc trở thành đối tác tin cậy của các hãng công nghệ hàng đầu thế giới như HP, IBM, Cisco, Microsoft, Oracle... CMC-SI thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm đe dọa tới mức doanh thu từ dịch vụ tích hợp hệ thống của FPT.
Có thể thấy hai hoạt động đóng góp chủ đạo vào tổng doanh thu của FPT mặc dù vẫn tăng trưởng song lại chỉ cho mức tỷ suất lợi nhuận rất thấp. Bối cảnh cạnh tranh gay gắt đang dần tạo ra những "rào cản" giảm doanh thu, bên cạnh việc giữ vững thị phần trong mảng kinh doanh truyền thống thì việc mở rộng và phát triển sang những mảng kinh doanh hay những mảng mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Hướng tới lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao
Hai lĩnh vực mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhưng lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng doanh thu toàn Tập đoàn, đó là Telecom và Xuất khẩu phần mềm.
Lĩnh vực Telecom mà cụ thể là ISP ở Việt Nam hiện nay đang là cuộc chiến của 3 tên tuổi lớn: VNPT, FPT Telecom (nay đổi thành TCty Viễn thông FPT) và Viettel Telecom, chiếm tới 96% thị phần. Còn lại 4% thị phần thuộc về các doanh nghiệp khác như NetNam, SPT, EVN Telecom... Như vậy, đối thủ cạnh tranh thực tế của FPT trong lĩnh vực ISP chính là VNPT và Viettel Telecom, trong đó, Viettel Telecom đang có khả năng áp đảo FPT về thị phần và có thể đánh bật VNPT trong vài năm tới với tốc độ phát triển và nhân lực của mình. Đây hoàn toàn là một điều có thể xảy ra. Trong khi FPT chỉ tập trung vào phân khúc thị trường tại TP Hà Nội, HCM, và mới đây là Hải Phòng thì 2 đối thủ của FPT đã kịp "phủ sóng" toàn bộ 64 tỉnh thành và biến phân đoạn thị trường tại các địa phương trở thành "cuộc đấu tay bo" chỉ của VNPT và Viettel Telecom, trong đó Viettel dường như có lợi thế hơn.

Về xuất khẩu phần mềm, FPT Software hiện đang là công ty đứng đầu Việt Nam về gia công, xuất khẩu phần mềm mặc dù đã từng thất bại. Hiện nay, FPT Software gần như chưa có đối thủ cạnh tranh thực sự trong lĩnh vực này. Hệ quả tất yếu là những hợp đồng gia công, xuất khẩu phần mềm lớn đều tập trung vào tay "người tiên phong" và tới thời điểm này, toàn bộ các hợp đồng cho năm 2008 đều đã được ký kết. Chẳng hạn như hợp đồng với Agills Solution của Mỹ trị giá 3,5 triệu USD, hợp đồng OSDC với JIP, khách hàng Nhật Bản, trị giá 2 triệu USD vào tháng 3/2008.
Như vậy, hoạt động kinh doanh của FPT bị phân tách làm hai mảng riêng biệt: mảng có bản chất ít dính dáng tới công nghệ là phân phối điện thoại di động với tỷ suất lợi nhuận thấp, mảng kia vừa có hàm lượng công nghệ cao, vừa mang lại lợi nhuận lớn, đó là các công việc liên quan tới phần mềm. Kinh doanh phần mềm và Telecom có thể trở thành mảng kinh doanh chủ chốt góp phần thúc đẩy cả Tập đoàn và có đủ khả năng bù đắp những suy giảm về doanh số cũng như lợi nhuận từ những mảng kinh doanh truyền thống cho tỷ suất lợi nhuận thấp. Mảng giáo dục, truyền thông hay tích hợp hệ thống... cũng sẽ góp phần vào doanh thu toàn Tập đoàn trong dài hạn và cần thời gian lâu hơn để trở thành mảng kinh doanh cốt yếu.
Cùng với đà tăng của thị trường, cổ phiếu FPT cũng giữ được xu thế đi lên cho tới thời điểm ngày 22/08/2008. Dường như dư âm "nóng" của kết quả kinh doanh FPT nửa đầu năm 2008 vẫn còn đó cùng những kỳ vọng cho con số lợi nhuận những quý còn lại của năm. Với những yếu tố nền tảng khá vững chắc cùng chiến lược rõ ràng, FPT hoàn toàn có khả năng thỏa mãn được kỳ vọng từ phía các cổ đông.
Doanh thu và lợi nhuận của một doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới giá trị thị trường của cổ phiếu Cty vì nó tác động trực tiếp tới mức sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư. Ngay sau khi FPT thông báo kết quả kinh doanh quý 2/2008, giá cổ phiếu FPT đã tăng kèm theo đó khối lượng giao dịch cũng tăng vọt trong những ngày tiếp theo. |
Nhật Minh