Theo thống kê của Bộ Tư Pháp, Việt Nam đã ban hành khoảng 300 văn bản pháp luật bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn chưa chặt chẽ, thiếu nhiều quy định quan trọng, nhiều tội danh "lọt lưới" pháp luật. Do vậy, trong bối cảnh môi trường nước ta đang xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống văn bản này cần phải được xem xét, bổ sung và sửa đổi.

Môi trường - tầm quan trọng và thực trạng tác hại

Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam cũng đã khẳng định “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân” và pháp luật là một trong những công cụ cần thiết và hữu hiệu nhất góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh và xử lý những hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường. Và để thực hiện được điều này, Điều 7, Luật Bảo vệ môi trường quy định “Tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trường vào mục đích sản xuất, kinh doanh trong trường hợp cần thiết phải đóng góp tài chính cho việc bảo vệ môi trường. Tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”.
 
Điều 628 Bộ luật Dân sự cũng có quy định “Cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường".
 
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hàng ngày, hàng giờ con người vẫn tiếp tục khai thác và sử dụng một khối lượng khổng lồ những nguồn tài nguyên thiên nhiên như than đá, dầu mỏ, gỗ, các loài sinh vật... ở một số nơi, sự khai thác quá mức đã khiến cho những nguồn tài nguyên này bị lâm vào tình trạng suy kiệt một cách trầm trọng. Cũng như vậy, hàng ngày, hàng giờ các nhà máy sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục thải vào môi trường đất, nước, không khí những lượng chất thải vô cùng lớn cùng với lượng bụi và độ ồn quá tiêu chuẩn cho phép.

Thực tế đã cho thấy, thiệt hại về môi trường là những thiệt hại có tính nghiêm trọng. Thiệt hại môi trường làm phát sinh những thiệt hại tiềm ẩn trong đó có thể dẫn tới thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ và tài sản của con người.
 
Báo động đỏ về vi phạm môi trường

Nước ta đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng trong công cuộc bảo vệ môi trường. Áp lực do dân số, phát triển công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Phát triển công nghiệp hóa đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Chỉ tính riêng Hà Nội mỗi năm tổn thất lên tới 23 triệu USD do ô nhiễm không khí.

Tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đang có diễn biến phức tạp, nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tài nguyên, khu công nghiệp, khu đô thị. Trong năm 2007, Cục bảo vệ môi trường đã kiểm tra tổng cộng 384 cơ sở, 47 KCN và 7 làng nghề trên địa bàn 41 tỉnh/thành phố trên phạm vi toàn quốc bao gồm Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, TP HCM, Bà Rịa Vũng tàu, Cà Mau, Sóc Trăng...

Qua kiểm tra, đã phát hiện 69 cơ sở gây ô nhiễm môi trường và  47 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hầu hết các cơ sở có phát sinh khí thải mà không có hệ thống xử lý khí này; nếu có thì lại không đạt tiêu chuẩn. Cục Cảnh sát môi trường đã điều tra và xử lý một số trường hợp sai phạm nghiêm trọng. Điển hình như vụ Công ty chăn nuôi bò sữa Thuận Thành (Quảng Trị) làm lây lan dịch lở mồm long móng, Cty Ngọc Sơn (Quảng Nam) khai thác rừng đầu nguồn. Vụ nhập hơn 3.500 container ắc quy chì và nhập tàu cũ về phá dỡ ở cảng Hải Phòng (Thủ tướng Chính phủ đã có công văn yêu cầu phải chấm dứt việc phá dỡ tàu cũ và ngừng nhập khẩu ắc quy chì). Vụ việc một Cty TNHH sản xuất ắc quy gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Hà Tây…

Theo Cục Bảo vệ môi trường, sở dĩ nhiều cơ sở và cá nhân vi phạm, là do ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều cơ sở sản xuất, chủ đầu tư các khu công nghiệp còn kém. Mặt khác, các cơ quan chức năng dường như đã “bao bọc”, làm ngơ trước những sai phạm. Ví như gần đây nhất cảnh sát môi trường đã bắt quả tang nhà máy Vedan xả chất thải độc hại ra sông Thị Vải. Một câu hỏi được đặt ra tại vụ này là vì sao doanh nghiệp có chất lượng nước thải có mức độ ô nhiễm cao, thông số màu sắc vượt hơn 14 lần so với quy định; Thông số coliform (vi khuẩn) tới 2.400.000MPN/100ml, vượt tới 480 lần so với tiêu chuẩn quy định mà vẫn được cấp phép xả thải vào nguồn nước. Tại sao những sai phạm này đã diễn ra trong cả một quá trình 14 năm nay (từ năm 1994) mà đến bây giờ mới phát hiện… Nếu không có sự "làm ngơ" hoặc quy trình thẩm định mẫu nước... chưa đạt yêu cầu của những bên liên quan thì phải chăng Vedan đã dễ dàng qua mặt các nhà chuyên môn, quản lý?  

Pháp luật về môi trường: Thiếu nhiều quy định quan trọng, nhiều tội danh “lọt lưới”
 
Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường với khoảng 300 văn bản là khá nhiều, nhưng vẫn còn thiếu nhiều quy định quan trọng, cụ thể. Ví dụ như: thuế bảo vệ môi trường; kiểm toán môi trường; quy định chi tiết chế độ bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường; thiếu chính sách cụ thể khuyến khích ngành công nghiệp môi trường, xã hội hóa bảo vệ môi trường... Chưa có quy định đặc thù về nguyên tắc bồi thường trong lĩnh vực môi trường.
 
Bộ luật Hình sự với 15 tội danh trong 10 điều luật thuộc chương XVII về tội phạm môi trường, đến nay, cũng mới chỉ có 2 tội danh bị truy tố là tội hủy hoại rừng (Điều 189) và tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190). Các tội danh còn lại của 10 điều luật về tội phạm môi trường muốn truy tố phải có điều kiện trước đó là "đã bị xử phạt hành chính mà vẫn còn vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng (từ Điều 182 đến 191)" thì chưa đưa ra truy tố được vụ nào. Do đó, 8 tội danh môi trường trong Bộ luật Hình sự vô hình dung đã “lọt lưới” pháp luật. Theo Bộ công an, số vụ việc được đưa ra khởi tố, xét xử về tội phạm môi trường là không đáng kể (hơn 1.000 vụ với 1.630 bị can) so với các tội khác.

Một vấn đề khác nữa là tính ổn định văn bản pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam không cao. Có văn bản mới ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung  như Nghị định 80/2006/NĐ-CP ban hành năm 2006, qua 1 năm áp dụng đã phải sửa đổi, bổ sung. Ngày 28/02 vừa qua, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Nghị định 80. Ngoài ra, các điều kiện đảm bảo công tác bảo vệ môi trường, bổ sung nguồn nhân lực và các trang thiết bị cần thiết, nhất là cho các tổ chức cấp cơ sở, nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ quản lý không có trong quy định.

Sửa luật, tăng mức phạt để ngừa tội phạm

Tình hình xâm hại môi trường diễn biến rất phức tạp, tinh vi. Các văn bản pháp luật và quy phạm pháp luật hiện nay vừa thiếu vừa không đồng bộ. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự không có tên Cục Cảnh sát môi trường trong thẩm quyền điều tra. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính cũng không có tên Cục Cảnh sát môi trường trong thẩm quyền xử phạt. Ngoài ra, ngay Luật Bảo vệ Môi trường cũng còn nhiều bất cập. Theo luật này, chỉ có 1 tội danh không phải xử lý hành chính mà được khởi tố ngay, nhưng 9 tội còn lại để có thể khởi tố cần phải có 2 điều kiện bắt buộc là đã xử lý hành chính cơ sở vi phạm nhưng tái phạm hoặc cơ sở để xảy ra hậu quả nghiêm trọng.

Trong khi thế nào là để xảy ra hậu quả nghiêm trọng lại hết sức mơ hồ. Thực tế nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng hậu quả ngay tức thì không thể nhìn thấy được mà kéo dài dai dẳng hàng chục năm sau mới bùng phát thành dịch bệnh. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt còn quá nhẹ, chỉ là giải pháp tạm thời có tính chất cảnh cáo. Mức phạt cao nhất là 70 triệu đồng trong khi phải đầu tư thiết bị xử lý môi trường hàng tỷ đồng, với mức phạt này các doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt.

Do vậy, các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, đề xuất sửa cho phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, cần nâng cao mức áp dụng hình phạt tiền trong toàn bộ các tội phạm về môi trường để đủ sức răn đe, ngăn ngừa hành vi tái phạm. Trước tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã trở thành vấn nạn, vừa qua tại phiên họp lần thứ 12, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đề xuất cần sớm nghiên cứu, sửa đổi pháp luật về bảo vệ môi trường; kịp thời xử lý nghiêm, có hiệu quả những vấn nạn này.