Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, sau hơn 1 năm thực hiện Luật Quản lý Thuế (có hiệu lực từ 1/7/2007) trong lĩnh vực XNK, đã phát sinh những vướng mắc cần kịp thời tháo gỡ để tạo điều kiện cho DN.

Trong việc khai báo thuế, Luật Quản lý thuế đã quy định về khai bổ sung, nhưng các văn bản hướng dẫn chưa quy định rõ phạm vi khai bổ sung nên gây khó khăn cho quá trình thực hiện đối với các trường hợp được miễn kiểm tra sau đó DN tới khai bổ sung. Bởi trên thực tế DN khai bổ sung sau 60 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai nên cơ quan hải quan chưa cho khai bổ sung.

Về nộp thuế, Luật Quản lý Thuế quy định nhiều thời hạn nộp thuế khác nhau theo các tiêu chí khác nhau tùy theo mục đích nhập khẩu hàng hóa để sản xuất xuất khẩu hay tiêu dùng, hay tạm nhập tái xuất. Quy định này tuy một mặt đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế trong điều kiện các DN còn thiếu vốn nhưng quá phức tạp, cơ quan hải quan phải phân bổ nguồn lực lớn cho công tác đôn đốc, cưỡng chế thu nợ thuế, nợ phạt... Luật Quản lý Thuế cũng chưa quy định cụ thể thời hạn nộp thuế hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn, xét miễn thuế, ví dụ hàng nhập khẩu phục vụ an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo (Tính thời hạn nộp thuế như đối tượng chấp hành tốt pháp luật hay không tính thời hạn nộp thuế). Hoặc chưa quy định cụ thể thời hạn nộp thuế của hàng không có hợp đồng mua bán, hàng cư dân biên giới, khai bổ sung.

Về việc miễn, giảm, hoàn, truy thu thuê, luật Quản lý Thuế quy định cơ chế người nộp thuế tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hàng hoá thuộc đối tượng miễn thuế, trong khi đối tượng miễn thuế của Luật thuế XNK hiện hành quá rộng, một số quy định chưa rõ ràng, dễ lẫn (ví dụ miễn thuế hàng hoá tạo tài sản cố định của dự án ưu đãi đầu tư, miễn thuế nguyên liệu, linh kiện, vật tư 5 năm cho dự án ưu đãi đầu tư, miễn thuế hàng hoá phục vụ dầu khí, miễn thuế ôtô của đối tượng ngoại giao, hàng tạm nhập tái xuất...). Trong khi đó, trên thực tế ý thức chấp hành pháp luật thuế của một số DN chưa cao, hoạt động kiểm tra sau thông quan còn mới nên chưa kiểm soát được việc thực tế sử dụng hàng hóa của các DN thuộc đối tượng này.       

Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật hiện hành về thuế và quản lý thuế chưa quy định việc hoàn trả tiền phạt nộp thừa, trong khi thực tế có phát sinh và là một quyền lợi hợp lý của DN. Quy định về hồ sơ hoàn thuế của một số trường hợp chưa quy định đầy đủ hoặc chưa phù hợp thực tế. Ví dụ như quy định yêu cầu phải nộp bản sao tờ khai trong điều kiện đã theo dõi được trên phần mềm vi tính. Điều đó vừa tốn chi phí cho DN vừa cồng kềnh, không cần thiết.

Một vấn đề khác là quy định về cưỡng chế hành chính thuế. Theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện, thì người nộp thuế có nợ thuế quá hạn quá 90 ngày sẽ bị cưỡng chế. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản; Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt; Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu; Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hóa đơn;  Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề. Việc cưỡng chế phải thực hiện theo trình tự từ biện pháp đầu tiên, nếu biện pháp đầu nhưng không thực hiện được thì mới chuyển sang biện pháp thứ hai, không được phép áp dụng ngay biện pháp dừng làm thủ tục hải quan khi chưa áp dụng lần lượt các biện pháp trước đó... Trước khi thực hiện cưỡng chế, cơ quan hải quan phải ban hành quyết định gửi cho người nộp thuế biết. Tuy nhiên, trên thực tế, đa số cơ quan hải quan địa phương chưa thực hiện việc cưỡng chế theo đúng trình tự như trên mà thường là thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan. Mặt khác hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện quy trình cưỡng chế thuế nên việc thực hiện còn chưa thống nhất, chưa đúng quy định, đôi khi gây khó cho DN.

Vũ Đức