Bộ Tài chính đã soạn thảo Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi) để lấy ý kiến nhân dân.
Theo đó, dự thảo Nghị định bổ sung khí than là một loại tài nguyên phải chịu loại thuế tài nguyên. Dự thảo Nghị định nêu rõ, căn cứ tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than được xác định trên cơ sở luỹ tiến từng phần của tổng sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng, thuế suất thuế tài nguyên và số ngày khai thác trong kỳ tính thuế.
Thuế suất thuế tài nguyên dầu thô khai thác trên 150.000 thùng/ngày là 20% đối với dự án khuyến khích đầu tư và 25% đối với các dự án khác. Riêng đối với khí thiên nhiên, khí than, nếu khai thác đến 5 triệu m3/ngày, áp dụng thuế suất là 0%; từ trên 10 triệu m3/ngày, thuế suất 6% đối với dự án khuyến khích đầu tư và 10% đối với các dự án khác.
Trong trường hợp dầu thô, khí thiên nhiên và khí than được bán không theo hợp đồng giao dịch sòng phẳng tại địa điểm giao nhận, Bộ Tài chính sẽ xác định giá tính thuế tài nguyên dựa trên giá thị trường, có xét đến chất lượng dầu khí, địa điểm giao nhận và các yếu tố liên quan khác.
Về phương thức nộp thuế tài nguyên, đối với khai thác dầu khí, được nộp bằng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than, bằng tiền hoặc một phần bằng tiền và một phần bằng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than tuỳ theo cơ quan thuế lựa chọn. Địa điểm nộp thuế tài nguyên thu bằng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là điểm giao nhận.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2009.
Minh Long