Những điểm khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế được coi là trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình "xuất khẩu" chứng khoán. DĐDN có cuộc trao đổi với bà Đinh Thị Quỳnh Vân - Phó Tổng Giám đốc công ty PricewaterhouseCoopers Việt Nam xung quanh vấn đề này. 

Bà Vân cho biết, hầu hết các sàn giao dịch chứng khoán ở các nước đều yêu cầu các công ty phải công bố báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được soạn lập theo các Chuẩn Mực Báo cáo tài chính (BCTC) Quốc Tế (IFRS) của 3 năm tài chính trước khi niêm yết. Mặc dù chuẩn mực kế toán Việt Nam rất gần với chuẩn mực kế toán quốc tế, nhưng vẫn còn một số điểm khác biệt quan trọng. Một trong số đó là việc định giá tài sản theo chuẩn mực kế toán quốc tế, yêu cầu các tài sản phải được định giá theo giá trị hợp lý của thị trường. Còn theo chuẩn mực kế toán của Việt Nam thì yêu cầu các tài sản phải được định giá theo giá trị gốc. Sự  chênh lệch này có thể dẫn đến các số liệu BCTC theo chuẩn mực báo cáo quốc tế khác với số liệu độc lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam.

- Vậy  có thể chuyển được từ BCTC chuẩn mực kế toán Việt Nam sang theo chuẩn mực kế toán quốc tế không, thưa bà?

Đa số các doanh nghiệp Việt Nam không soạn lập BCTC theo IFRS, và nếu các công ty này có soạn lập BCTC theo IFRS thì không phải lúc nào cũng được kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần cho các BCTC đó. Để chuyển được sang BCTC theo IFRS các công ty Việt Nam cần có khả năng duy trì một hệ thống có thể lưu trữ và cung cấp được các thông tin cần thiết, bao gồm các dữ liệu quá khứ và tương lai, theo một phương thức giúp cho việc soạn lập được BCTC theo IFRS.  Các công ty cần lập một kế hoạch chi tiết vì để thực hiện được việc này công ty phải bỏ ra một chi phí đáng kể và quá trình thực hiện sẽ cần phải có sự liên kết của rất nhiều bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty.

Các công ty nhỏ và vừa của Việt Nam có thể mất ít nhất là 2 năm để hoàn thành quá trình chuẩn bị này.  Các công ty lớn có cơ cấu kinh doanh và mô hình phức tạp có thể mất từ 3 năm trở lên để chuyển đổi qua hệ thống báo cáo theo IFRS. Do vậy, ban lãnh đạo công ty cần phải dự trù quỹ thời gian hợp lý và nguồn nhân lực giỏi để thực hiện việc chuyển đổi này. Đối với các tổ chức tài chính thì việc chuyển đổi sang báo cáo theo IFRS đặc biệt khó khăn hơn vì các tổ chức này có mạng lưới hoạt động rất rộng và sản phẩm của họ cũng rất đa dạng.

Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sau khi các công ty hoàn thành việc lập BCTC theo IFRS, BCTC có ý kiến kiểm toán loại trừ, sẽ có thể không được các sàn giao dịch chứng khoán nước ngoài hay các nhà đầu tư tiềm năng quốc tế chấp nhận.

- Có thể nói, để các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết thành công ở thị trường nước ngoài, thì các công ty kiểm toán là chiếc cầu nối. Vậy theo bà, khoảng bao nhiêu phần trăm số công ty kiểm toán ở Việt Nam có thể làm được chiếc cầu này?

Tôi có thể nói chắc chắn là cả 4 công ty kiểm toán quốc tế đang có măt tại Việt Nam có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình niếm yết cổ phiếu tại TTCK nước ngoài. Ngoài ra còn một số công ty Việt Nam tương đối lớn nữa khác.

- Nhưng dường như chi phí để có thể niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán nước ngoài đối với doanh nghiệp Việt Nam là quá lớn?

Các công ty Việt Nam cần ý thức rằng chi phí niêm yết trên sàn nước ngoài cao hơn rất nhiều so với chi phí niêm yết trên sàn trong nước vì quá trình này đòi hỏi phải có sự tham gia của những tổ chức có tầm cỡ quốc tế trong lĩnh vực bảo lãnh phát hành, kiểm toán, tư vấn pháp luật và tư vấn doanh nghiệp... Một nhân tố mà các doanh nghiệp Việt Nam thường ít để ý đến là cần phải đảm bảo những nguồn lực thiết yếu để giám sát việc niêm yết và các nghiệp vụ có liên quan sau khi đã niêm yết.  Các công ty xin niêm yết cần lưu ý rằng họ không chỉ phải tuân thủ các yêu cầu về niêm yết tại thời điểm phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, mà quan trọng hơn là phải tiếp tục đáp ứng được những yêu cầu này và duy trì việc tuân thủ trong suốt quá trình niêm yết.

Chúng tôi tin rằng việc niêm yết ở nước ngoài sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên để tối đa hóa các lợi ích, các doanh nghiệp Việt Nam phải cẩn thận xem xét vấn đề này vì việc có tên công ty mình xuất hiện trên sàn giao dịch chứng khoán nước ngoài không phải là đích đến mà thực sự là điểm khởi đầu cho một hành trình mới những công ty này cam kết sẽ đi đến cùng.

- Xin cảm ơn bà !

Phương Thảo thực hiện.