Bảo hiểm xã hội (BHXH) là sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước và từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ. Tuy nhiên, theo dự báo của các chuyên gia nếu quỹ BHXH vẫn tính toán như bây giờ thì tới năm 2035 quỹ sẽ mất khả năng chi trả. Từ năm 1995 số dư quỹ BHXH vẫn tăng liên tục, đến nay theo ước tính thì số dư đã lên tới con số 25.000 tỷ đồng. Số dư của quỹ BHXH tăng là số lao động tham gia BHXH tăng lên đáng kể từ 2,8 triệu người (1996) lên tới khoảng trên 5 triệu người trong năm nay. Chính phủ cũng đã nhiều lần tăng mức lương tối thiểu từ 120.000 đồng/tháng năm 1996 tới nay đã lên tới 290.000/tháng nên số tiền đóng BHXH của người lao động tăng.
Hiện nay quỹ BHXH được dùng để chi trả cho quá nhiều chế độ như: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, lương hưu, tử tuất, khám sức khoẻ... và vô vàn các khoản chi khác như chi cho quản lý bộ máy và chi hoạt động đầu tư quỹ. Nhưng mức thu vẫn dừng lại ở con số khiêm tốn 20% mức lương cơ bản thì hệ quả tất yếu sẽ xảy ra. Trưởng ban Kế hoạch tài chính BHXH VN khẳng định: "Nếu tính toán thu chi theo các quy định hiện hành thì đến năm 2021 số chi sẽ bằng với số thu vì tốc độ tăng thu sẽ giảm dần và tốc độ chi sẽ tăng lên rất nhiều, nhất là chi cho những người hưởng lương hưu". Nếu vậy, từ năm 2022 trở đi số chi hàng năm sẽ lớn hơn số thu và sẽ phải sử dụng quỹ BHXH tồn từ những năm trước - đây chính là sự mất cân đối của quỹ.
Theo các chuyên gia, để khắc phục tình trạng này, trước hết cần tăng cường quản lý các nguồn thu vào quỹ BHXH. Nhất là tình trạng nợ đọng BHXH ở các DNNN làm ăn thua lỗ và DN nhỏ. Vì hiện nay nhiều DN dùng hình thức ký hợp đồng ngắn hạn để không phải nộp BHXH. Thậm chí có DN thu tiền bảo hiểm của người lao động nhưng lại không nộp cho cơ quan bảo hiểm. Nguyên nhân vì hiện Nhà nước chưa có chế tài đủ mạnh để khắc phục tình trạng này, các DN chỉ phải nộp mức phạt hành chính quá thấp so với mức họ phải nộp.
Cũng theo các chuyên gia, nên điều chỉnh mức đóng và mức hưởng của các bên tham gia BHXH theo hướng cụ thể hơn nữa để tránh tình trạng "nhập nhằng". Các cơ chế, chính sách đối với hoạt động đầu tư quỹ của BHXH cũng cần được bổ sung và có sự điều chỉnh thích hợp hơn. Cụ thể, đối với một phần quỹ nhàn rỗi dùng để đầu tư Nhà nước cần có một quy định chặt chẽ, rõ ràng tránh sự lãng phí gây thất thoát không đáng có. Nếu quỹ này cần dành cho ngân sách nhà nước, các ngân hàng thương mại hay một tổ chức nhà nước nào khác thì cần phải do Tổng Giám đốc BHXH VN quyết định. Riêng với hình thức đầu tư vốn vào các dự án kinh doanh, liên doanh góp vốn đầu tư thì thẩm quyền quyết định phải được phân cấp cụ thể và có chính sách phù hợp. Mặt khác, Chính phủ cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với hoạt động đầu tư quỹ như ưu đãi thuế và ưu tiên một số lĩnh vực, dự án đầu tư bằng quỹ BHXH mà ở đó vốn đầu tư an toàn, ít rủi ro và có nhiều khả năng tăng trưởng như đầu tư vào xây nhà bán trả chậm cho người nghèo, người có thu nhập thấp, đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội... Mở rộng diện nộp BHXH tự nguyện để người lao động cũng như người nông dân sẽ có cơ hội đảm bảo cho cuộc sống khi về già. Vì suy cho cùng sự tăng trưởng của quỹ BHXH gắn bó mật thiết đến việc bảo đảm các chính sách an sinh xã hội.
N.Hương