Quy mô của xuất khẩu ngày một tăng, tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu cao lên, năm sau tăng cao hơn năm trước (năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 11,2%, năm 2003 tăng 20,8%, năm 2004 tăng 28,9%). Ngay 4 tháng đầu năm 2005, mặc dù số gốc so sánh đã cao lên, nhưng tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 23,2%, cao gấp hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng các chuyên gia cho rằng, chưa thể chủ quan thoả mãn, bởicán cân thương mại còn mất cân đối, tức là còn nhập siêu, và nhập siêu có tới 4 điểm đáng lưu ý.

Một là, nhập siêu liên tục gia tăng nhanh chóng về quy mô tuyệt đối. Năm 2005 mới qua 4 tháng đã nhập siêu 1.176 triệu USD, cao gấp gần 1,2 lần mức nhập siêu của cùng kỳ năm 2004. Tỷ lệ nhập siêu trong 4 tháng đầu năm 2005 cũng ở mức 18,4%..

Từ tình hình trên có thể rút ra một nhận xét, đó là hình như càng mở cửa, hội nhập thì nhập siêu càng gia tăng, ngược hẳn với mục tiêu của việc mở cửa hội nhập. Đây cũng là điều cảnh báo rất cần thiết cho thời gian tới, bởi việc mở cửa hội nhập sẽ ngày càng sâu, rộng hơn, nhất là khi VN thực hiện hội nhập đầy đủ hơn theo cam kết với các nước trong khu vực, với Hoa Kỳ, đặc biệt chẳng bao lâu nữa sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Khi gia nhập WTO, các rào cản nhập khẩu về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư sẽ được hạ xuống hoặc bãi bỏ, tạo sức ép cạnh tranh đối với sản xuất kinh doanh trong nước. Trong khi đó, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp trong nước còn thấp. Về sản phẩm, theo đánh giá của các cơ quan chức năng và các chuyên gia, VN hiện chỉ có khoảng 14 -15 sản phẩm có sức cạnh tranh. Nhưng ngay trong số này cũng có một số sản phẩm đang mất dần lợi thế cạnh tranh, như hàng dệt may - loại sản phẩm có kim ngạch lớn thứ 2 sau dầu thô. Về doanh nghiệp, quy mô vốn, lao động, trình độ kỹ thuật - công nghệ, trình độ tay nghề lao động của phần lớn doanh nghiệp VN còn thấp; tỷ lệ lợi nhuận trên vốn còn thấp hơn cả lãi suất trả tiền vay ngân hàng, trong khi có đến trên dưới 80% vốn hoạt động của doanh nghiệp phải đi vay.

Hai là, nhập siêu hoàn toàn do khu vực kinh tế trong nước, nên mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) có xuất siêu thì cũng không đủ bù lại phần nhập siêu của kinh tế trong nước. Điều đó chứng tỏ, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngoài lợi thế về vốn kỹ thuật - công nghệ, trình độ tay nghề, quảng cáo tiếp thị, tiêu thụ,..., đã tranh thủ tốt hơn thời cơ khi các nước thực hiện cam kết cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu để đẩy nhanh xuất khẩu tăng với tốc độ cao hơn nhập khẩu và gia tăng xuất siêu. Còn khu vực kinh tế trong nước, về xuất khẩu thì chưa tận dụng hết cơ hội, nhập khẩu lại không vượt qua được thách thức lớn hơn khi VN cũng phải thực hiện cam kết cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu. Đây là một vấn đề đáng lưu ý về nhập siêu cần cảnh báo.

Ba là, trong khi xuất siêu sang thị trường Hoa Kỳ, sang thị trường Châu Âu, VN lại nhập siêu rất lớn từ Châu á.

Cần nhớ rằng, Mỹ, EU đang là các thị trường xa, nhưng lại là thị trường mà hàng nhập khẩu có công nghệ nguồn, công nghệ cao, có tác dụng lớn đến đổi mới kỹ thuật - công nghệ ở trong nước. Trong khi đó, với khu vực ASEAN, với Châu Á thì trong quan hệ buôn bán với khu vực này, VN luôn luôn ở vị thế nhập siêu. Nhập siêu lớn nhất là từ Đài Loan gần 2,2 tỷ USD, Singapore gần 1,9 tỷ USD, CHND Trung Hoa gần 1,4 tỷ USD, Thái Lan gần 1 tỷ USD, Hồng Kông trên 0,6 tỷ USD, Malaysia gần 0,5 tỷ USD, Nhật Bản và Inđônêxia mỗi nước gần 85 triệu USD. Chỉ với 9 nước và vùng lãnh thổ trên, nhập siêu đã lên đến trên 9,7 tỷ USD, gấp gần 2 lần tổng nhập siêu của cả nước.

Cũng cần nhớ rằng, Châu á là thị trường gần, việc mở cửa đối với khu vực này cũng khá sớm, lại là khu vực có yêu cầu về số lượng, chất lượng, thị hiếu tương đối tương đồng, gần như không có hàng rào kiểu như hạn ngạch, hay bán phá giá như một số thị trường khác. Nhưng kỹ thuật - công nghệ ở các thị trường này chưa phải là công nghệ nguồn; trong một số trường hợp còn là những hàng hóa, thiết bị không tiêu thụ được ở các thị trường khác do trình độ công nghệ, do không bõ công mang đi xa, do đã lạc hậu không tiêu thụ được ở trong nước (chẳng hạnmía đường, xi măng lò đứng...) thì được tiêu thụ ở VN, trong khi tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn sạch ở VN chưa chặt chẽ. Nhập "rác" công nghệ mà báo chí nói nhiều cũng với ý nghĩa đó.

Bốn là, trong cơ cấu xuất khẩu thì các "đại gia" đều tăng rất chậm (dệt may chỉ tăng 2,9%, giày dép chỉ tăng 3,7%, thuỷ sản chỉ tăng 7,6%, thủ công mỹ nghệ chỉ tăng 1,9%, xe đạp và phụ tùng xe đạp giảm 30% ). Trong cơ cấu nhập khẩu thì lại nhập khẩu nhiều mặt hàng nguyên nhiên vật liệu lại giảm xăng dầu giảm 5,4%, sắt thép giảm 1,3%, phân bón giảm 55,8% ... Trong khi mặt hàng ôtô 236 triệu USD, tăng tới 51%, xe máy nguyên chiếc 1.355 tăng 65%...

Những điểm trên là rất đáng lưu ý đối với các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đối với các nhà xuất khẩu, sản xuất hàng trong nước và cả đối với người tiêu dùng.

M.Anh