Nguyên đơn là một DN ở TP HCM, bị đơn là một thương nhân Nhật.

Các vấn đề cần được giải quyết:
- Người XK có giao hàng kém phẩm chất không.
- Những chi phí nào phát sinh từ việc tái chế hàng phải bồi thường

Ngày 13/02/1996 thương nhân Nhật ký hợp đồng bán cho DN TP HCM VN 1400 MT UREA 5%, thanh toán bằng L/C trả chậm 330 ngày kể từ ngày giao hàng.

Ngày 06/07/1996, hàng về đến cảng Sài Gòn, DN VN mời Cty giám định hàng hóa tại TP HCM đến giám định lô hàng. Biên bản giám định kết luận biuret của UREA không đạt tiêu chuẩn quy định của hợp đồng, các bao UREA có hàng bên trong bị cứng, vón cục từng phần, trọng lượng của các bao không thống nhất nhau. Vì thế DN VN buộc phải chuyển hàng từ cảng vềkho của Cty tái chế để thuê tái chế, thay thế bao bì, đóng gói lại.

DN VN đã điện khiếu nại thương nhân Nhật kèm biên bản giám định phẩm chất, đòi giảm giá lô hàng do độ biuret kém, đòi bồi thường chi phí phát sinh do tái chế.

Ngày 22/08/1996, DN VN và thương nhân Nhật đã ký biên bản thỏa thuận, theo đó thương nhân Nhật đồng ý hỗ trợ DN VN 11.700 USD do độ biuret không đạt quy định của hợp đồng, không nói gì đến chi phí tái chế. Nhưng thực tế, thương nhân Nhật mới trả cho DN VN 8.000 USD.

- Số tiền hỗ trợ do biuret không đạt còn thiếu 3.700 USD.

- Chi phí tái chế, thay thế bao bì, gồm: Chi phí giám định: 13.304.880 VND

Chi phí thuê kho bảo quản chờ đóng gói lại từ 01/08/1996 đến 15/11/1996 là 46.109.400 VND.

Chi phí bốc xếp: 14.463.240 VND gồm: Bốc nhập kho: 7.889.040 VND; Bốc xuất kho: 6.574.200 VND.

Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của Cty tái chế: 3.000.000 VND.

Chi phí tái chế, đóng gói lại lô hàng 173.128.150 VND gồm: Chi phí gia công đóng gói lại: 86.319.250 VND; Phí bốc xếp nhập tái chế: 2.021.100 VND; Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 2.694.800 VND; Chi phí mua bao bì mới: (27.080 bộ x 3100 VND/bộ) trừ tiền bán bao bì cũ (1.855.000 VND): 82.093.000 VND.

Cộng chi phí là 276.915.670 VND

Lãi suất gồm: Lãi suất đọng vốn nhập khẩu (3 tháng kể từ ngày 22/8/1996 đến 17/11/1996):

314.099,43 USD x 1,25% tháng x 3 tháng = 11.799 USD.
Lãi suất đọng vốn của các chi phí đã phải bỏ ra là 20.768.675 VND.
Cộng F + G = 11.779 USD + 279.684.345 VND
Quy ra USD = 11.779 USD + 25.552 USD = 37.331 USD
(1USD = 11.650 VND)

Các chi phí tái chế đều có chứng từ, biên lai kèm theo làm bằng chứng.

Trong bản biện minh đề ngày 29/6/1997, thương nhân Nhật trình bày như sau:

Một là, thương nhân Nhật không đồng ý thời gian lưu kho là 3 tháng rưỡi mà chỉ chấp nhận 2 tháng rưỡi kể từ ngày 29/08/1996 (theo hợp đồng thuê kho) đến ngày 14/11/1996:

1.314,84 tấn x 10.000 VND/tấn/tháng x 2,5 tháng = 32.871.000 VND.

Hai là, thương nhân Nhật không thừa nhận thiệt hại của mục C và mục D vì theo hợp đồng ngoại thương và thực tiễn thực hành tại VN người mua hàng phải lo và chịu các chi phí bốc xếp tại cảng đến, vận chuyển hàng từ cảng về kho và bốc xếp tại kho. Lô hàng này, tuy có vấn đề phát sinh nhưng cũng chỉ có 1 đợt bốc xếp tại cảng, vận chuyển về kho và bốc xếp tại kho. Lô hàng này, tuy có vấn đề phát sinh nhưng cũng chỉ có 1 đợt bốc xếp tại cảng, vận chuyển về kho và bốc xếp tại kho như các lô hàng khác.

Ba là, về chi phí mua bao bì mới trong mục E, thương nhân Nhật chỉ thừa nhận 26.500 bao trị giá 82.150.000 VND theo hợp đồng mua bao bì và phiếu chi.

Bốn là, lãi đọng vốn nhập khẩu trong mục G thương nhân Nhật đề nghị mức lãi suất hợp lý là 1.124%/tháng vì số tiền hàng nhập khẩu DN VN trả theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày (11 tháng) chênh lệch giữa đơn giá bán trả trậm và đơn giá bán trả ngay là 24,475 USD (231,50 USD - 206,025 USD).