Trong số các sản phẩm đoạt giải thưởng Sao Vàng đất Việt lần đầu tiên, có máy tính CMS của Cty TNHH sản xuất và dịch vụ máy tính Thế Trung (CMS Co., Ltd). Đó đích thực là máy tính Việt Nam. Nhà sản xuất của CMS đã tự hào khi nói về sản phẩm của mình: “Máy tính số 1 VN”.

Một thông tin tóm tắt như vậy hấp dẫn ngay bất cứ một nguời làm báo nào. Tôi đã tìm gặp ông Giám đốc của CMS tại trụ sở của Cty ở tầng 3 toà nhà 67 Ngô Thì Nhậm, Hà Nội. Hoá ra “ông” giám đốc CMS còn rất trẻ. Là một thanh niên trạc tuổi “băm” và trông dáng dấp rất thư sinh. Anh là Nguyễn Phước Hải.

1. Sự khác biệt

Tôi đã đặt một câu hỏi rất “khiêu khích”:

- Khẩu hiệu quảng bá của anh là máy tính số 1 Việt Nam. ThÁ‹ật chứ?

- Thứ nhất, chúng tôi chiếm vị trí số 1 về thị phần. Hiện tại, chúng tôi đã chiếm khoảng 5 - 6% tổng lượng máy tính bán ra trên thị trường, phấn đấu đến 2010 đạt 10 - 12%.

- Nhưng số đó có vẻ... hơi ít?

- Anh hãy tham khảo một chút thế này, hãng Dell là nhà sản xuất và phân phối phần cứng lớn trên thế giới, nhưng thị phần của họ chỉ chiếm 14%. Với thị trường VN, tất cả các nhà phân phối có tên tuổi trên thế giới đã vào như IBM, Compaq, Acer... chỉ có thể chiếm thị phần xấp xỉ 15%. Và điều này nữa, năm vừa qua, hãng máy tính thương hiệu VN có doanh thu thấp kề ngay sau chúng tôi, thì cũng chưa bằng một nửa của chúng tôi. Nhưng điều quan trọng là chúng tôi có hệ thống đại lý bán hàng toàn quốc với hơn 200 đại lý và hơn thế nữa, một hệ thống dịch vụ đạt tiêu chuẩn ISO 9001 với hơn 20 cơ sở trên toàn quốc.

- Tôi thấy hiện tại có rất nhiều công ty, cửa hàng có thể lắp ráp máy tính, gán cho nó một nhãn hiệu, tuy rằng họ không chiếm thị phần lớn như các anh, nhưng họ cũng tuyên truyền dịch vụ hậu mãi rất tốt. Vậy đâu là sự khác biệt giữa sản phẩm CMS và các loại ấy?

- A, đây là một câu hỏi ngắn gọn, mà trả lời không ngắn. Điều đầu tiên có thể nhất trí với anh rằng, hiện tại, những hoạt động lắp ráp máy tính và gắn một thương hiệu là không bị cấm và phù hợp với Luật DN. Dường như cũng không có ai, cơ quan nào có thể kiểm tra và ngăn cản hoạt động ấy. Nhưng có một điều mà người dùng rồi sẽ nhận ra rằng, mua một cái máy tính không phải đơn giản chỉ là mua một bộ máy chết như các loại máy móc khác, mà là cần nuôi nó như một cơ thể sống, cần khai thác nó với vô số tính năng, làm cho nó có giá trị gia tăng, mà chỉ những nhà sản xuất phần cứng có đầu tư lớn như chúng tôi mới đạt được. Vì sao ư? Điều này liên quan đến đặc điểm của linh kiện máy tính, mỗi hãng sản xuất chỉ có thế mạnh nhất định với một loại linh kiện hay bộ linh kiện. Việc tổ hợp tất cả các loại linh kiện, chi tiết ấy vào một bộ máy để nó phát huy tốt hiệu quả phải cần trình độ chuyên môn sâu, đòi hỏi đầu tư lớn cả về nhân lực lẫn vật chất. Anh có thể lắp ráp một vài trăm chiếc PC chạy cho một vài ứng dụng không tồi, nhưng khi cần khai thác những phần mềm khác nhau hoặc muốn có vài nghìn chiếc tốt như nhau để sử dụng trên quy mô lớn thì lại là chuyện khác.

- Cho nên các anh mới đầu tư dây chuyền sản xuất lắp ráp máy tính công suất 10.000 bộ máy tính/năm ở Sài Đồng?

- Vâng, và đó cũng là dây chuyền lắp ráp lớn nhất VN hiện nay. Và điều đó là một lý do tại sao CMS lại trúng thầu 5.000 máy tính cho 630 trường Trung học cơ sở trong cả nước.

- Trước đây, trong một cuộc hội thảo, các đại diện sản xuất máy tính đã lên tiếng rất ghê về việc Nhà nước hầu như không hỗ trợ cho việc phát triển phần mềm và phần cứng, ngay đến việc định ra tiêu chuẩn cho một cơ sở lắp ráp cũng chưa có. Phải chăng đó chính là nguyên nhân gây ra sự lộn xộn trong thị trường máy tính?

- Một là do đặc trưng công nghệ của ngành lắp ráp máy tính, hai là cơ chế tổ chức quản lý ngành thời gian qua cũng có điều chưa thỏa đáng. Điều này chúng tôi không trách móc nhà quản lý mà thông cảm với họ. Từ chỗ Bộ Công nghiệp thì quản lý phần xác máy móc, Bộ Khoa học Công nghệ thì quản lý phần hồn công nghệ đến nay thống nhất về Bộ Bưu chính Viễn thông thì đã là một bước tiến, nhưng tôi cho rằng công việc còn quá ngổn ngang. Chúng tôi đã vận động thành lập Hiệp hội phần cứng máy tính, nhưng do mới có sự thay đổi quản lý ngành như vậy, nên hiện nay vẫn còn đang hoàn tất thủ tục thành lập hội nghề nghiệp này.

2. Thế nào là... máy tính?

- Tiếp tục câu chuyện về sự khác biệt và chất lượng sản phẩm, có một câu hỏi thế này: Tại sao chưa thấy nói đến một sự quản lý chất lượng sản phẩm máy tính, giả sử có một cơ quan quản lý nhà nước đặt vấn đề tiêu chuẩn VN cho máy tính VN như các loại sản phẩm khác?

- Có một cơ quan như thế thì tốt quá. Tốt quá. Nhưng có lẽ không thể làm được.

- Sao vậy?

- Là thế. Với những dòng sản phẩm của công nghệ mới như máy tính thì khó ai có thể định nghĩa thế nào là chuẩn mực về chất lượng theo cách xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm thông thường. Thế nào là điện thoại di động? Loại thế hệ trước hay bây giờ hay thế hệ sau nữa mới là chuẩn? Máy tính nào là tiêu chuẩn? Thực tế luôn luôn có những sản phẩm mới ra đời mà không hề giống những loại đã có trước đó. Chỉ có một yêu cầu duy nhất là đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dùng, mà yêu cầu đó thì đa dạng, luôn luôn mới mẻ. Một cơ quan để xây dựng tiêu chuẩn chất lượng máy tính ư? Trong khi anh còn loay hoay với những sản phẩm trên thị trường thì đã có dòng sản phẩm mới ra đời, mà chính những người làm tiêu chuẩn có thể chưa hình dung ra nó thế nào, còn nhà sản xuất thì vì lý do thương mại, không thể báo cáo nhà quản lý là chúng tôi sắp ra đời loại máy như thế, như thế... Do đó, nếu có tính đến tiêu chuẩn về máy tính chăng nữa thì nên tránh áp đặt về tiêu chuẩn công nghệ mà tập trung vào các tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, ví dụ tiêu chuẩn an toàn điện, bức xạ, môi trường...

3. Nội địa hoá - Mảnh đất màu mỡ

- Nhưng có thể có một chuẩn mực nào đó về một máy tính thương hiệu VN chứ? Ví dụ, một trong những tiêu chí mà nhiều nhà quản lý nói đến là yếu tố nội địa hoá chẳng hạn.

- Đây là một vấn đề thú vị. Trước hết, nếu có nội địa hoá được theo kiểu sản xuất được các chi tiết, linh kiện nào đó ở VN, thì tôi rất ủng hộ, hoan nghênh.

- Đó có phải là tiếng nói của lòng yêu nước?

- Đúng là lòng yêu nước, nhưng không phải là tất cả. Tôi nói điều đó với tư duy trước hết của nhà doanh nghiệp. Bởi lẽ, giả sử các chi tiết sản xuất tại VN thì rất tiện lợi cho việc lắp ráp, theo dõi đặt hàng, hợp đồng bạn hàng, hoạch định kế hoạch sản phẩm... Ví dụ, để hoàn thiện lô hàng 5.000 máy cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng tôi phải cử chuyên gia đến làm việc cụ thể, theo dõi tại nơi sản xuất linh kiện ở nhiều nước khác nhau, chi phí vô cùng tốn kém.

- Vậy tại sao không thể có cách sản xuất linh kiện tại VN? Anh có suy nghĩ gì về việc này?

- Trước hết, như trên đã nói, việc sản xuất linh kiện máy tính không đơn giản như chi tiết ôtô hay xe máy. Các hãng phần cứng trên thế giới phần lớn là chọn một loại chi tiết linh kiện làm thế mạnh, từ đó hình thành phân công lao động tự nhiên trong thế giới máy tính như Intel thì chuyên chip, Samsung rất mạnh màn hình, các hãng Đài Loan thì chuyên mailboard... Do đó, việc nhập linh kiện có thể tiện lợi hơn và có thể tối thiểu hoá chi phí tốt hơn. Nhưng xét về lâu dài, như trên tôi nói, dùng một máy tính không phải là tiêu dùng một cục máy vô tri, mà phần nào phải hiểu nó là một bộ máy “có hồn”, hồn ấy do phần mềm mang lại, vậy thì đồng bộ hoá với việc phát triển phần mềm cần phải được chuẩn bị từ khâu phần cứng. Malaysia là nuớc làm tốt việc nội địa hoá máy tính, ngày nay họ tự hào đã nội địa hoá đến 80% máy tính.

- Vậy thì, theo tôi hiểu, VN vẫn có cơ may tận dụng được cơ hội trở thành nơi sản xuất linh kiện, theo phương thức liên doanh hoặc các hãng xây dựng công ty 100% vốn của họ tại VN?

- Đúng vậy, tuy nhiên cần lưu ý rằng, nhà máy đầu tiên của Intel sản xuất linh kiện máy tính ở Malaysia lần đầu tiên là năm 1972, cách đây 30 năm.

- Cho nên, có lẽ các nhà sản xuất máy tính mới trông chờ vào một hệ điều hành tiếng Việt? Có phải triết lý về nội địa hoá của các anh trên cơ sở hệ điều hành Linus hơn là việc sản xuất linh kiện phần cứng?

- Hiểu thế cũng gần đúng.

- Nhưng tôi thấy một số người từng phát biểu rằng, chả cần phải dùng một hệ điều hành tiếng Việt. Cứ Microsoft khai thác cũng... mệt.

- Đấy là nguời dùng có kỹ thuật, có tiếng Anh. Còn đại bộ phận thì không như vậy. Bất luận thế nào, người Việt dùng ngôn ngữ Việt vẫn tự tin hơn và đặc tính ngôn ngữ chính là thiên thời địa lợi của ngành máy tính. Ví dụ, các hãng Châu âu, Mỹ không thể vào được thị trường khổng lồ Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng chính là vì hệ điều hành có ngôn ngữ bản địa và các hãng nội địa của các nước đó đã độc chiếm thị trường. Người VN mình rồi cũng vậy. Do đó, việc Việt hoá hệ điều hành là một yêu cầu tự thân của nhà kinh doanh, chứ không phải như thoạt nhìn có vẻ là vì một nhãn mác nội địa hoá nào đó.

4. Tôi lớn lên cùng cty, cty lớn lên cùng đất nước

Tôi có một thắc mắc: Trong khi các chuyên gia phân tích rằng, thế mạnh của một nước mới tham gia thị trường công nghệ thông tin như VN là làm phần mềm, nhưng CMS lại lao vào phần cứng? Câu trả lời của anh Hải là: Phải có ai đó làm phần cứng chứ, và CMS do điều kiện “tự nhiên” đã lãnh trách nhiệm là công ty chuyên phần cứng máy tính và phương châm của công ty là chọn lấy một số ít lĩnh vực nhưng phải tập trung cao độ vươn lên số 1. Cái gọi là điều kiện “tự nhiên” đólà CMS tách ra từ Công ty Máy tính Truyền thông CMC từ tháng 5/1999. Sau đó 2 năm, CMS đã xây dựng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000.

Đoạn bộc bạch ít ỏi này có thể hình dung được bước đường ngắn mà thành công của người giám đốc trẻ: “Tôi học vô tuyến điện ở Ukraina, về nước năm 1996. Về nước, cũng muốn xin làm một chân cán bộ nào đó theo sự phân công của Nhà nước, nhưng rồi chờ đợi phân công mà chưa có kết quả, phải tự xoay xở việc làm. Vào CMC cũng chỉ là một sự giới thiệu tình cờ. Từ năm 1991 đến 1996 tôi có tham gia công việc kinh doanh với bạn bè và thời gian du dọc cũng tích luỹ được vốn kinh nghiệm kinh doanh nhất định. Còn tiếng Anh tôi học ở đâu ư? Về VN mới học tiếng Anh, vừa làm ở CMC vừa đi học buổi tối ở các Trung tâm ngoại ngữ.”.

Nguyễn Phước Hải nói chuyện với tôi, anh chính thức về làm tại Công ty CMC từ năm 1997. Tôi tò mò hỏi vì sao sau 3 năm, từ một người mới vào làm, đã được tin tưởng trao chức Giám đốc một công ty mới, lao vào một mặt trận mới? Tôi biết những câu hỏi như vậy thường khó có câu trả lời. Trả lời chính là... cười. Hay là anh có một thế mạnh nào đó, về vốn liếng hay về gia đình? Lại cười: “Gia đình tôi bố mẹ đều là cán bộ Nhà nước. Quê bố tôi ở Huế nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội”.

Phước Hải có nói, chắc mình cũng có một tố chất nào đó khiến cho các vị ở CMC tin tưởng. Có lẽ đó là sự nhiệt tình hết mình với công việc. Hải nói: Đoạn đường sắp tới của CMS mới chỉ được hình dung “lờ mờ” nhưng tôi hiểu đó chỉ là một lời nói đùa. Vì anh có phàn nàn, mọi con đường đều phải tự khai phá mới thấy thú vị, nhiều ý nghĩa. Theo anh, con đường trở thành tập đoàn kinh tế tư nhân ở VN chắc cũng còn xa, vì xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay cũng chỉ mới xới xáo lên, thậm chí chưa thí điểm được cơ mà.

Dù sao, nghĩ đến điều “lờ mờ” được như vậy, cũng chỉ có những người có điều kiện “tự nhiên” như giám đốc CMS.

Chia tay tôi, Hải nói: “Tôi lớn lên cùng công ty, công ty lớn lên cùng đất nước”. Tôi nghĩ bụng, vậy thì chỉ có cái điện thoại di động của anh là không “lớn lên” vì tôi thấy Giám đốc cty máy tính số 1 VN đang dùng chiếc... StarTaX.

Mai Thuận