DĐDN đã có cuộc trao đổi với PGS - TS Trương Bá Thanh - Hiệu trưởng ĐHKT Đà Nẵng nhân dịp Trường kỷ niệm 30 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng 2.

- Ông đánh giá thế nào về sự phát triển và hoạt động của đHKT đN trong những năm gần đây?

ĐHKT ĐN tiền thân là Khoa Kinh tế của Trường ĐHBK ĐN 1975, phân hiệu ĐHKT ĐN, năm 1984 mới thực sự trở thành ĐH thành viên của ĐHĐN. Từ những năm 1975- 1995 trường phát triển với tốc độ bình thường cả về quy mô đào tạo và số lượng, cụ thể là ban đầu chỉ có 6 chuyên ngành thì nay đã đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ hai chuyên nghành và 12 chuyên ngành đại học, 5 cho hệ cao đẳng. Tuyển sinh năm 1975-1980 trung bình 150 học sinh/năm, thì năm nayđã lên trên 1.300 học sinh. Trường hiện có 220 cán bộ công chức, trong đó có 7 PGS, 26 TS, 97 thạc sỹ, 55 giảng viên chính và 101 giảng viên. Ngoài ra, trường còn liên kết, hợp tác đào tạo với các trường và trung tâm đào tạo trong và ngoài nước như: ĐHKTQD Hà Nội, ĐHKT HCM, Trung tâm Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (VAPEC), Hội các nước nói tiếng Pháp (AUF), ĐH Pierre Mendes France Grenoble, Viện nghiên cứu quản lý Lille, ĐH Quebec ở Montr'eal Canada, ĐH Riverside Mỹ,... để phối hợp nghiên cứu khoa học, đào tạo ngày càng phù hợp với thực tiễn nước ta, yêu cầu phát triển trong khu vực và thế giới. Đến nay trường đã có cơ sở khang trang hiện đại, phòng học đầy đủ tiện nghi, 5 phòng với 400 máy tính nối mạng Internet, 1 phòng Internet, tất cả các khoa phòng đều nối mạng nội bộ với ĐH ĐN và các trường thành viên khác. Ba mươi năm qua trường đã cho ra lò gần 24.000 cử nhân, thạc sĩ các chuyên ngành kinh tế, đáp ứng nhu cầu về đội ngũ cán bộ cho các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và nhiều tỉnh trong cả nước.

Trong 5 năm gần đây trường có 40 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 115 đề tài cấp trường và 1 đề tài liên kết với TP Đà Nẵng, 100% đề tài nghiệm thu đều đánh giá loại khá trở lên. Điều đáng mừng là các đề tài đều có giá trị vận dụng trong thực tế quản lý, phát triển KT-XH các địa phương, DN và giảng dạy có kết quả tốt. Ngoài ra, trường còn tổ chức nhiều hội thảo khoa học phục vụ cho sản xuất, giảng dạy... Cũng thời gian này có hơn 400 học sinh tham gia NCKH với 207 đề tài. Hai năm qua đã có 2 giải nhì, một giải 3 và 9 giải khuyến khích trong cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc.

- Để đảm bảo chất lượng đào tạo, phát huy hiệu quả trong công việc, theo ông đHKT đN cần phải làm như thế nào?

Đó là vấn đề lớn, đã nhiều cơ quan chức năng, Quốc hội... đưa ra bàn. Do vậy trong phạm vi nào đó như ĐHKT ĐN, theo tôi cần chú trọng một số vấn đề cơ bản: Thứ nhất là quy mô, chất lượng đào tạo phải sát thực tiễn và hiện đại điều này được chứng minh kết quả đào tạo của khoa kết toán. Thứ hai là chương trình và giáo trình phải được biên soạn trên cơ sở khoa học chung trên thế giới và phù hợp với nhu cầu nguồn lực của nền phát triển KT-XH. Muốn làm được như vậy thì phải liên kết, hợp tác như tôi nói ở trên, để khi học sinh có điều kiện ra nước ngoài học hoặc nghiên cứu không phải chuyển đổi. Đề tài khoa học phải gắn với thực tế địa phương, chúng tôi đang thí điểm đào tạo trực tuyến qua mạng tiến tới mở rộng. Thứ ba là phương pháp giảng dạy, chúng tôi luôn chú trọng các hình thức dạy tình huống, học, thảo luận nhóm, sử dụng lý thuyết trò chơi DN..., mô phỏng các lĩnh vực hoạt động của DN để dạy. Tăng cường học ngoại ngữ, tin học. Có nhiều hình thức khuyến khích học sinh đam mê học và nghiên cứu khoa học. Đến nay đã có hơn 70% các môn học cơ bản chuyên ngành, 100% sau đại học có giáo trình nội bộ, 30 cuốn chính thức đã xuất bản.Thứ tư là phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trách nhiệm đội ngũ giảng dạy và quản lý. Song song với đào tạo ấy là nâng cao trách nhiệm giảng dạy và quản lý bằng cách phân công cho từng khoa, phòng cụ thể để tự họ phát huy khả năng trong dạy và quản lý,nhà trường chỉ điều hành thông qua các quy trình chung. Thứ năm là phải thật sự nghiêm túc trong đánh giá chất lượng học sinh, đây xem như yếu tố quyết định trong kết quả đào tạo.

- Ông đánh giá thế nào về vấn đề đào tạo của VN hiện nay?

Theo tôi cần mở rộng quyền tự chủ hợp tác quốc tế, tự chủ về chất lượng đào tạo và văn bằng. Mối quan hệ giữa bộ, ĐH vùng và trường trong tuyển sinh hiện nay còn mang tính bị động, do vậy cần phân quyền cho các trường. Đánh giá chất lượng đào tạo để làm cơ sở cho học sinh cũng như nhà trường thành chuẩn mực chung.

- Xin cảm ơn ông.

Hoàng Long thực hiện