Làng Đệ Nhất ở phía Bắc sông Bùng, huyện Diễn Châu, Nghệ An có phường thợ xây thợ đắp tượng nổi tiếng. ở vùng này, nhiều làng có nghề thợ xây, nhưng thợ đắp tượng thì chỉ làng Đệ Nhất mới có. Do đó, tiếng tăm phường thợ Đệ Nhất không những lan truyền trong huyện trong tỉnh, mà còn lan truyền ra Thanh Hóa vào Hà Tĩnh.
Con sông Bùng chảy từ phía Tây ra biển Đông, tạo ra hai phía tả hữu ngạn những ao hồ, đầm lầy và những cánh đồng trũng. Phương thức sống duy nhất là độc canh cây lúa. Mà cắm cây lúa xuống đất cũng như đánh bạc với trời, hết hạn hán đến lụt lội vơ được hạt thóc về nhà thật trăm đường cơ cực. Nhiều người xoay ra làm thêm nghề phụ. Làng Kẻ Ngói có nghề nung ngói, làng Kẻ Dặm có nghề nấu vôi. Làng Phú Hậu có nghề đan võng... Và, làng Đệ Nhất có nghề thợ nề thợ xây thợ đắp tuợng. Tương truyền làng Đệ Nhất có nghề này cách đây gần 200 năm. Đầu đuôi sự việc thật tình cờ. Đêm tháng sáu, trăng sáng, mùa kéo vải. Đám trai làng Phì Cam đến hát với phường con gái làng Đệ Nhất. Trong phường con gái có o Nhự xinh đẹp và hát hay khiến chàng trai Phì Cam mê như điếu đổ, chàng trai ấy tên là Thành. Đôi trai gái ấy yêu nhau rồi lấy nhau. Bố cô Nhự biết Thành là tay thợ xây rất giỏi, tìm cách khuyên Thành ở lại làng mình. Ông cắt đất cho Thành làm thổ cư, rồi dựng nhà cho Thành. Thế là Thành trở thành cư dân của làng Đệ Nhất. Theo tập tục ích kỷ trước đây, các nghề truyền thống phải được giữ kín trong gia đình, gia tộc hoặc trong dòng họ; thậm chí có nơi nghiệt ngã, chỉ truyền nghề cho con trai, chứ không truyền cho con gái. Anh Thành cũng vậy, không nằm ngoài tập tục ấy. Nhưng vì bát cơm manh áo, vì vợ vì con, buộc anh phải thoát ra khỏi cái tập tục ích kỷ xưa kia. Lúc đầu anh chỉ hướng dẫn nghề cho đàn ông trong họ mình. Rồi dần dần những người đàn ông thuộc các họ khác trong làng cũng tò mò học việc. Đám thợ ấy lập thành phường. Phường thợ ngày càng nổi tiếng, quanh năm suốt tháng đều có việc làm. Tuy anh Thành đã trở thành con rể, một cư dân, một suất đinh của làng Đệ Nhất, đã thân thiết với bà con và bạn thợ, nhưng anh chỉ truyền nghề thợ nề và thợ xây. Mãi về sau anh mới truyền nghề đắp tượng. So với nghề thợ nề, thợ xây thì nghề đắp tượng phức tạp hơn nhiều, tinh tế hơn và đòi hỏi lòng yêu nghề thật cao, thật say mê. Đồ nghề đắp tượng, ngoài những thứ mà thợ nề thợ xây dùng như bai, bàn là, khuôn, dây dọi, dao gạch... còn phải có thêm dùi và bút lông. Dùi dùng để kẻ những đường nét trên thân tượng, bút lông dùng để vẽ. Nguyên liệu để đắp tượng dĩ nhiên là có vôi, cát; còn phải có thêm giấy bản và mực nho mực màu. Người ta phải giã giấy bản thật nhuyễn, ngâm vào nước lạnh qua đêm, rồi trộn giấy với vôi, rưới mật mía vào, và nhào các thứ ấy thành một chất dính thật mịn và giẻo quánh. Công việc đắp tượng vừa là công việc của người thợ lành nghề vừa là công việc của một nghệ sĩ. Thực sự họ là những nghệ sĩ dân gian tài ba, đã tạo dựng những cổng tam quan uy nghi có tượng hai ông tướng lẫm liệt, những con voi con ngựa, những con hổ con sư tử, những con hạc, con rùa, những con lân, con rồng, những búp sen, cành trúc... Nhiều công trình kiến trúc tín ngưỡng ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh đều do bàn tay người thợ Đệ Nhất làm nên.
Sau mấy chục năm chiến tranh, bom đạn tàn phá bao nhiêu đền đài miếu mạo, ngày nay cuộc sống tâm linh của dân chúng lại đòi hỏi tái tạo các công trình đó. Phường thợ Đệ Nhất lại bận rộn vác đồ nghề đi nhiều vùng trong, ngoài tỉnh. Ông dạy nghề cho cháu. Cha dạy nghề cho con. Anh dạy nghề cho em. Dường như dòng máu di truyền từ bao thế hệ trước vẫn chảy ấm nóng trong huyết mạch thế hệ cháu con ngày nay. Đền thờ Thục An Dương Vương ở đồi Mộ Dạ, huyện Diễn Châu đã bị bom đạn phá nham nhở. Bàn tay người thợ Đệ Nhất đã phục hồi vẻ đẹp uy nghiêm cổ xưa như nó vẫn tồn tại hàng trăm năm trước.
Làng xóm lại rộn vui nghề nghiệp ông cha truyền lại. Từ trong thôn mạc, ta lại nghe vang lên câu ca dao tình tứ:
Khi ra tô tượng đình làng
Khi về tô mặt cô nàng đẹp xinh
Anh ngắm anh nghía cô mình
Bưng hai cái oản anh tính tình tang tang.
Vũ Hậu Luật