Cây đa bến nước làng cò An DươngTrước khi xuống thuyền lượn quanh đảo cò chúng tôi rẽ vào ngôi nhà khang trang mới xây có tên: Trung tâm giáo dục môi trường Chi Lăng Nam. Khu du lịch sinh thái này đang được đầu tư, cải tạo và nâng cấp trên cơ sở dự án nhỏ và vừa SGP/VN/99/004 do các chủ đầu tư là Hội giáo dục môi trường VN, Hội giáo dục môi trường TP Hải Dương và UBND xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Con cò sinh sống nơi đây từ khá lâu đời và cũng trải qua bao sóng gió dữ dằn. Thiên nhiên ban phát cho người dân Chi Lăng Nam cảnh trời nước trong lành với hồ rộng 17 ha, sâu tới 18 m và cây đa bờ sóng xập xềnh. Hòn đảo nhỏ chừng vài ba trăm mét vuông nổi lên giữa hồ đầy tre và những cây gai từ khá lâu đời là vương quốc huy hoàng của các loại cò. Chừng một vạn con cò, và dăm trăm con vạc. Có thời người ta cực đoan tính rằng để tre chẳng có lợi gì bèn phá hết tre, trao đất đảo cho các cụ trồng cam. Cò tan tác. Cam lên nhanh, xanh tốt ngất trời nhưng không có quả. Người ta buộc phải phá cam trồng tre trở lại. Cò về! Vạc về! Đủ chín loại cò. Đủ ba loại vạc. Vạc xám, vạc xanh, vạc đen, còn nghênh, cò ngang, cò lửa, cò ruồi, cò bợ, cò quăm, cò diệc, cò giang, cò... Cho đến những năm đầu khoán 10 ai nấy mải mê với mảnh ruộng riêng của mình chẳng để ý đến hồ, đến đảo, đến cò, kẻ xấu dùng bẫy giết cò hàng loạt mang bán cho các nhà hàng. May mà sự ấy không thể kéo dài. Người dân hiểu dần ra vị trí của môi trường sinh thái đối với đời sống con người mà có công trong lĩnh vực này phải kể đến thầy giáo Khang của trường sinh phạm tỉnh và tổ làm phim “Bến cò sông vạc” của Đài truyền hình VN.

Khách du lịch tới đây ngày một đông. Ông Nguyễn Đức Ban - đại diện Ban Quản lý khu du lịch sinh thái An Dương thuộc xã Chi Lăng Nam, hay còn gọi là khu Đảo Cò cho biết bình thường mỗi ngày có chừng 200 khách. Ngày nghỉ đông hơn. Ngày tết hay xuân sang nhiều khi tám thuyền của Ban quản lý mê mệt không chở hết khách phải huy động thêm thuyền của dân. Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định hầu như năm nào cũng có đoàn về thăm cò, đôi khi ngủ lại chờ thưởng thức lúc cò vạc giao ca vào buổi sáng. Đó là lúc khoảng sáu giờ. Dù mưa hay nắng cũng là lúc vạc kiếm ăn về và cò sau giấc ngủ đêm đẫy đà tung mình bay lên. Chúng cứ bám theo đàn lượn vòng xao xác bầu trời. Rồi vạc sà xuống nghỉ để cò chìm vào trong nắng mai tới những vùng nhiều tôm lắm cá. Nghe truyền thuyết kể trước đây cò vạc kiện nhau ác liệt lắm. Sau vạc thua. Đất trời phải dành hết cho cò nên vạc lủi thủi đi ăn đêm như là ăn vụng. Phút giây thuyền dập dờn quanh đảo lòng người nhẹ nhõm. Hàng tre kẽo kẹt. Sóng nước lăn tăn. Bầu trời xôn xao lộng gió. Chiều đến cò về và vạc lại tung mình vào đêm. Chúng giao ca lần thứ hai trong ngày. Chúng gọi bầy gọi bạn làm lòng người càng thêm xáo động. Chả thế mà kỹ sư người Mỹ Michael Clack đã ghi vào sổ lưu niệm của Ban quản lý khu du lịch Đảo Cò: “Đây là một trong những sự may mắn lớn cho cộng đồng thế giới trước đe doạ tuyệt chủng của bao tài sản thiên nhiên quý giá. Chúng tôi trân trọng những giá trị được bảo tồn giữ ở nơi đây”. Còn du khách Pháp Cherrier thì viết: “Lúc mặt trời lặn ở Đảo Cò là bài học tuyệt vời về sinh vật học và kỷ niệm không bao giờ quên đối với thiên nhiên. Xin cám ơn các bạn đã cho chúng tôi có phút giây say đắm”. Những ngày vỡ đê xưa kia đã tạo ra vùng hồ sâu thẳm này. Nghe nói thuở lâu rồi có đoàn thuyền đánh cá từ Hà Nam tới đã thả neo chuẩn bị lưới vó. Các cụ An Dương can ngăn. Bởi hồ rất sâu, rất thiêng, trận lụt thời Tự Đức đã dìm cả khu đình làng xuống âm phủ, nhưng vị trưởng trùm cậy sức mình cứ tung lưới. Lưới mắc. Tung câu. Câu mắc. Vị trưởng trùm bèn cởi áo phơi lồng ngực cuồn cuộn như lim táu lao xuống để không bao giờ nổi lên được nữa. Hội thuyền Hà Nam dong buồm chuồn thẳng. Tới những ngày xây dựng công trình Bắc Hưng Hải người ta đắp đê và hồ lặng hình thành. Cò càng về ríu rít. Cá ở hồ hôm nay nhiều vô kể. Năm 1998 người ta đã bắt được con cá măng kìm nặng tới 30 kg.

Chúng tôi hỏi ông Nguyễn Đức Ban:

- Dự án SGP/VN/99/004 sẽ được thực thi tiếp như thế nào?

- Nhiều việc! - Ông Ban thong thả nói - theo tôi quan trọng bậc nhất là mở rộng khu du lịch cũng có nghĩa là mở rộng diện tích sinh sống cho cò. Đê vỡ ba khúc tạo thành khu hồ liên hoàn mênh mông và ba hòn đảo. Hòn thứ nhất hiện là một xóm có 7 hộ sinh sống, trước đây từng bí mật đặt kho lựu đạn của trung đoàn 42 thời kháng Pháp. Một đảo có 6 hộ liền nơi chúng ta đang ngồi và cây đa bến nước. Đảo nhỏ nhất giữa hồ cò đang sống. Đã có phuơng án di dời sáu hộ để biến thành nơi ở của cò với diện tích 4.000 m2. Trồng tre cho cò đậu. Những ao con và thùng vũng thả cá nhỏ, lươn, chạch làm thức ăn cho cò. Ông Ban bỗng cất giọng như reo - Trời ơi! Tới lúc ấy nơi đây sẽ thành vương quốc huy hoàng của cò và càng làm say lòng người.

- Cò sinh sản thế nào?

- Chúng tôi theo dõi thì thấy cò thường về vùng Ngọc Nhị - Sơn Tây hay đồi Quân khu Ba ở Hà Bắc đẻ trứng từ tháng tư đến tháng tám hàng năm. Chính vì vậy mà vào dịp này cò ở nơi đây ít hơn, khách tham quan cũng ít hơn. Từ tháng chín năm trước tới tháng ba năm sau cò nở, biết bay, theo bố mẹ về đây. Nhất là mùa xuân. Cò vạc đều rất đông. Khách tham quan du lịch cũng đông.

- Thu nhập của các bác thế nào?

- Ban quản lý của chúng tôi có chín người thì sáu người là quân nhân về hưu có lương, và thêm ba thanh niên trai tráng. Xã trả thù lao theo mùa vụ sáu tháng một lần mỗi ngày khoảng 2,5 kg thóc, nghĩa là từ bốn đến năm ngàn đồng. Thu nhập từ khách mỗi năm cho chừng 30 triệu đồng gồm: phí tham quan 500 đồng, phí gửi xe đạp xe máy 500 đồng. Gửi ô tô 5.000 đồng, phí du thuyền quanh đảo 3.000 đồng.

Đang mải nghe chuyện bỗng từ phía gốc đa bến nước ai đó kêu lên rõ to: Cò về! Cò về! Chúng tôi lao ra. Cò về thật! Từ tít chân trời xa dưới bóng hoàng hôn đỏ rực những chấm đen li ti xuất hiện. Rồi rõ dần. Rồi cánh trắng chấp chới. Rồi tiếng chim gọi bầy gọi bạn xôn xao vùng trời nước mênh mông.

Chúng tôi bước vội ra bến. Thuyền đợi sẵn. Những con thuyền du ngoạn chở khách lướt nhẹ ra mặt hồ đắm chìm vào ráng chiều lộng lẫy./.

Tô Đức Chiêu