Năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Điểm nổi bật mà WTO mang lại đó là dòng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam tăng trưởng mạnh. Đi cùng với sự tăng trưởng của đầu tư nước ngoài, các đối tượng SHTT được đăng ký cũng tăng theo.
Số lượng đăng ký nhãn hiệu của các DN Việt Nam tại Cục SHTT gần tương đương với số lượng đăng ký của các DN nước ngoài. Tuy nhiên số lượng sáng chế của các DN, cá nhân Việt Nam chỉ đạt 7 - 8% so với 92% của các tập đoàn, Cty nước ngoài đăng ký sáng chế ở Việt Nam. TS Lê Xuân Thảo - Chủ tịch Cty SHTT Invenco cho rằng, lý do khiến các DN nước ngoài tích cực đăng ký sáng chế vì họ nhận thức được rằng nếu không đăng ký thì khi xảy ra tranh chấp không ai đứng ra bảo vệ quyền SHTT cho mình. Nhiều DN Việt Nam không chịu đăng ký sáng chế bởi vì họ có nhận thức rất sai lầm là đăng ký nhãn hiệu tức là đã đăng ký SHTT. Các DN không biết rằng đăng ký SHTT ngoài nhãn hiệu còn có sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, thiết kế, bố trí,... Số lượng đăng ký SHTT của các DN Việt Nam tuy có tăng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu và khả năng thua ngay trên sân nhà nếu xảy ra tranh chấp quyền là điều chắc chắn.
TS Lê Xuân Thảo cũng cho rằng, hệ thống pháp luật về SHTT vẫn còn nhiều lỗ hổng. Luật SHTT ra đời năm 2005 nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về công tác giám định SHTT do đó các DN phải chạy vòng vo để xin xác nhận vi phạm. Các cơ quan thực thi thì ngại ngùng khi vụ việc chưa được cơ quan chức năng khẳng định vi phạm. Tình hình này đã làm tuột khỏi tay các lợi thế của DN là các chủ đối tượng SHTT. Mặt khác, lâu nay quy chế xét nghiệm các đối tượng SHCN chỉ lưu hành nội bộ làm cho các DN muốn đăng ký cũng không nắm rõ được quy chế.
Nhiều Cty nước ngoài cho rằng, đăng ký SHTT tại Việt Nam thường bị quá hạn, chậm trễ làm cho họ mất cơ hội đầu tư và làm mất đi hiệu quả từ lợi thế về SHTT. Sở dĩ chậm trễ là do nhiều quy định về thủ tục xác lập quyền SHTT còn thiếu minh bạch, rõ ràng làm cho các DN không hiểu tất cả các thủ tục đã nộp của mình đã đáp ứng theo yêu cầu chưa, thời hạn xử lý và xử lý đến đâu. Nhiều Cty chưa hài lòng về vấn đề thực thi quyền SHTT chưa có hiệu quả, nhiều kẻ vi phạm chưa bị trừng trị hoặc bị xử lý qua loa, đại khái. Việc quy định đối với hàng nhái yêu cầu chủ quyền phải thông báo cho bên vi phạm, nếu họ không đình chỉ thì các cơ quan thực thi mới vào cuộc đã gây nhiều thiệt hại cho các DN và làm cho việc thực thi không có hiệu quả vì tạo thêm cho bên vi phạm có cơ hội để tiêu huỷ chứng cứ, mở rộng sản xuất hàng loạt rồi mới đình chỉ làm cho chủ sở hữu quyền không kiểm soát được tình hình... Các nhà đầu tư nước ngoài cũng cho rằng, Việt Nam có nhiều cơ quan thực thi nhưng hình như họ ngại ngần trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể, các khiếu nại của DN về vi phạm SHTT. Thời hạn để trả lời DN còn chậm. Đặc biệt, từ khi Việt Nam có bảng lệ phí quốc gia mới thì họ phải trả tiền nhiều hơn cho một đơn đăng ký. Theo họ, lệ phí thủ tục đăng ký thống nhất đối với cùng một dạng phân loại không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm và dịch vụ ghi trong hoá đơn. Cần sửa đổi một số quy chế xét nghiệm hiện nay phù hợp với thông lệ quốc tế như áp dụng chế độ kiểu dáng công nghiệp một phần; kéo dài thời gian bảo hộ kiểu dáng công nghiệp quy định về tái đăng ký sau khi hết hạn bảo hộ, rút ngắn thời gian thẩm định...
Để SHTT trở thành kho báu của các DN và các nhà sáng tạo, theo TS Lê Xuân Thảo, điều cần thiết phải tạo ra được niềm tin cho rằng: chủ sở hữu quyền SHTT được hưởng lợi lớn từ việc đăng ký và Nhà nước sẽ trừng trị những kẻ vi phạm quyền của họ. Cần thiết tiếp tục sửa đổi các điều không hợp lý trong các văn bản pháp luật.Cụ thể là bỏ quy định phải thông báo cho bên vi phạm trước khi có quyết định xử lý, cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn về giám định trên cơ sở đó thiết lập các cơ quan giám định ở nhiều vùng trong cả nước tạo điều kiện xử lý nhanh các vụ liên quan đến SHTT. Cần đưa các quy định về điều kiện và thủ tục đăng ký công khai trên mạng để các DN cân nhắc và có kế hoạch đăng ký SHTT đồng thời kiểm tra, giám sát cùng với quá trình cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước tránh tình trạng chậm trễ trong việc đăng ký như hiện nay.