Khi giá dầu thô phá ngưỡng 100 USD/thùng vấn đề phát triển nguồn nhiên liệu sinh học (NLSH) càng được thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, tháng 11/2007 vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2020 - mở ra một hướng đầu tư mới hứa hẹn nhiều lợi ích cho các DN Việt Nam. Tuy nhiên, không thể phát triển ồ ạt NLSH mà không tính đến an ninh lương thực. DĐDN giới thiệu bài viết của PGS Đinh Xuân Bá - Chủ tịch HĐQT Cty Secoin, một trong những người khởi xướng hướng đi này tại Việt Nam và đang triển khai trên thực tế.

Khác với nhiên liệu hoá thạch (than, xăng, dầu, khí...), NLSH là một loại năng lượng tái tạo được. NLSH góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu.


Cuối tháng 7, Cty Nguyễn Chí (TP HCM) đã tuyên bố sản xuất thành công nhiên liệu gasohol - sản phẩm xăng pha cồn công nghiệp - và dự kiến sẽ đưa sản phẩm này ra thị trường vào tháng 10. Trung tâm công nghệ lọc-hóa dầu TP?HCM đang chuẩn bị lắp đặt dây chuyền sản xuất bio-diesel, công suất 2 tấn/ngày, với tổng vốn đầu tư gần 9,7 tỷ đồng.


Nhu cầu bức thiết

NLSH là nhiên liệu có nguồn gốc từ sinh khối (biomass), tức là từ thực vật, động vật và các sản phẩm phụ của chúng. NLSH có thể ở dạng lỏng, rắn hay khí. Có nhiều cách phân loại NLSH (ví dụ NLSH thế hệ thứ nhất, NLSH thế hệ thứ hai), nhưng theo tôi để dễ vận dụng và dễ hiểu, có thể tạm chia NLSH thành 3 loại:

Thứ nhất, NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp vốn là lương thực thực phẩm, ví dụ: ngô, đậu tương, sắn, cải dầu, lúa mì, củ cải đường, mía, dầu cọ, lúa miến (sorghum), mù tạc...

Thứ hai, NLSH làm từ sản phẩm nông lâm nghiệp không phải lương thực thực phẩm, ví dụ: hạt Cọc rào, cỏ kê Mỹ, cỏ trâu, tảo...

Thứ ba, NLSH làm từ phế thải phân huỷ được từ sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, nhà hàng ăn uống, khu dân cư, ví dụ: mỡ động thực vật, thức ăn thừa, mùn cưa, vỏ bào, thân cây ngô, rơm rạ, trấu, phân khô, rác...

Hiện nay các sản phẩm NLSH phổ cập trên thế giới là: diesel sinh học viết tắt là BD; cồn sinh học: bioethanol, biobutanol, biomethanol, trong đó nổi bật là Ethanol sinh học viết tắt là BE; nhiên liệu sinh học rắn , trong đó nổi bật là Gỗ Viên.

Trạm đổ dầu diesel thực vật ở Someya Shoten - Nhật Bản

BD đã manh nha xuất hiện rất sớm từ 1853 do công trình nghiên cứu của E. Duffy và J. Patrick về chuyển hoá ester của dầu thực vật, nhưng BD chỉ được chính thức ghi nhận vào ngày 10/8/1893, ngày kỹ sư người Đức Rudolf Christian Karl Diesel cho ra mắt động cơ diesel chạy bằng dầu lạc, sau đó ngày 10/8 được chọn là Ngày Biodiesel quốc tế. Đến 1907 Henry Ford, người sáng lập Cty đa quốc gia Ford Motor Company, cho ra đời chiếc xe ôtô chạy bằng Ethanol. Nhưng do giá xăng dầu khai thác từ nhiên liệu hoá thạch còn rất rẻ nên NLSH chưa được coi trọng. Đến đầu thế kỷ này, do giá xăng dầu tăng nhanh, nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu hoá thạch đe dọa và yêu cầu bức thiết về chống sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì NLSH trở thành một nhu cầu thiết thực của nhân loại, nhất là khi các công nghệ biến đổi gène góp phần làm tăng đột biến sản lượng một số sản phẩm nông lâm nghiệp.

Xu hướng của thế giới

Nói riêng về diesel sinh học, sản lượng BD trên toàn cầu từ năm 1991 đến 2005 là: năm 1991 sản lượng BD chỉ có 11 triệu lít, đến năm 2005 đã là 4.125 triệu lít, sản lượng tăng theo hàm số mũ. Trong 4.125 triệu lít của năm 2005, Đức chiếm 46,57%, Pháp 13,5%, Mỹ 6,88%, Italia 5,5%, Thụy Điển 3,3%, Áo 2,06%, Tây Ban Nha 2,04%, Đan Mạch 1,94%, Ba Lan 1.94%.

Những nước láng giềng của Việt Nam cũng đã có bước đi cho NLSH. Đơn cử Trung Quốc dự định cho đến năm 2010 sẽ trồng 13 triệu hecta cây Cọc rào. Các nhà máy ở 3 tỉnh phía Nam Trung Quốc trong năm 2006 đã sản xuất 50.000 m3 BD... Tại các nước Đông Nam Á láng giềng cũng vậy, Thái Lan ưu tiên cho việc sản xuất BD từ dầu Cọ. Hiện nay Thái sản xuất BD từ dầu Cọ với sản lượng 500.000 lít/ngày, dự kiến đến năm 2012 sẽ nâng công suất loại BD này lên 8,5 triệu lít/ngày. Diện tích trồng cây Cọc rào hiện nay chỉ mới có 1.600 hecta, với giá bán hạt Cọc rào khoảng 4-5 Baht/kg, nhưng thường được bán cho Trung Quốc vì giá thành sản xuất tại Thái một lít BD từ hạt Cọc rào xấp xỉ giá bán lẻ diesel hoá thạch. Chính phủ Thái Lan rất coi trọng việc phát triển NLSH, cụ thể là ngày 19/2/2007 Bộ Năng lượng Thái Lan đã quyết định thành lập Văn phòng phát triển NLSH thuộc Cục DAEDE. Giống như Thái Lan, Indonesia và Malaysia chủ yếu sản xuất BD từ dầu Cọ, tuy rằng đã có các nhà khoa học của Indonesia cảnh báo về sự huỷ hoại môi trường sống của các động vật hoang dã quý (hổ, tê giác...) do việc đốn hạ cây Cọ tràn lan. Gần đây họ đã hướng sự chú ý tới việc sản xuất BD từ hạt Cọc rào. Năm 2007, tập đoàn D1 Oil Plc (Hà Lan) đã hợp tác với 3 Cty Indonesia để triển khai trồng thử nghiệm 1.000 hecta cây Cọc rào.

Được khuyến khích bởi các chính sách hỗ trợ phát triển NLSH của Chính phủ Philippines, ngày 15/12/2007 hãng Bionor Transformacion SA của Tây Ban Nha đã ký hợp đồng liên doanh với Philippines để đầu tư 200 triệu USD trồng 100.000 hecta cây cọc rào và chế biến BD. Chính phủ Campuchia cũng dự định dành 40.000 hecta cho dự án sản xuất diesel sinh học từ hạt Cọc rào. Dự án này được triển khai bởi trường Đại học MVU và tổ chức Biodiesel Cambodia. Hai tổ chức này nhận được sự hỗ trợ thiết thực của Chính phủ Campuchia và một quỹ của Australia có tên tắt là AACF. Ngoài ra, Cty SODECO của ông Hak và bà Saumura Tioulong đang có thành công bước đầu trong việc gây giống Cọc rào cao sản mới tại 7 trang trại thử nghiệm.


Hiện nay, nhiều DN cũng đã sản xuất thử nghiệm thành công nhiên liệu sinh học từ dầu thực vật phế thải, mỡ cá ba sa, rỉ đường mía... góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường. Trong đó Cty cổ phần XNK Thủy sản An Giang (Agifish) đang đi tiên phong với việc triển khai dự án sản xuất NLSH từ mỡ cá ba sa cùng với hai Cty khác. Với tổng sản lượng cá ba sa khai thác hiện nay, trên 500.000 tấn/năm, mỗi năm các nhà máy này có thể cung ứng cho Agifish khoảng 75.000 tấn mỡ cá. Agifish đang chuẩn bị lắp đặt thêm dây chuyền sản xuất loại nhiên liệu này trị giá 3,8 triệu USD.


Phát triển theo hướng nào?

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ này, một số nhà khoa học Việt Nam đã để tâm nghiên cứu về NLSH và đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm có giá trị thực tiễn, trên cơ sở đó đã có nhiều đề xuất thiết thực, kể cả các Đề án nghiêm túc trình Chính phủ và các bộ liên quan về phát triển và sử dụng NLSH ở Việt Nam. Cũng đã có không ít Cty và hợp tác xã Việt Nam mạnh dạn đầu tư để triển khai các thử nghiệm trồng cây năng lượng và chế biến NLSH theo cả 3 hướng đã nói ở trên... Đặc biệt, đã có vài Cty nước ngoài (Đức, Israel, Hàn Quốc...) đến Việt Nam để nghiên cứu hợp tác hoặc liên doanh phát triển NLSH, nhưng mới ở giai đoạn thăm dò. Tuy vậy, chưa có Cty nước ngoài nào lớn như những Cty đã đầu tư vào Philippines và Indonesia trong lĩnh vực NLSH. Trong 3 tháng nay chúng tôi đang thương lượng một hợp đồng liên doanh với hai đối tác nước ngoài về sản xuất BD, nhưng còn vướng rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết sớm được. Tôi hi vọng rằng Quyết định 177/2007/QĐ-TTg và các văn bản thực thi đi kèm sẽ vừa tạo cho các pháp nhân Việt Nam điều kiện thuận lợi vừa mở ra một cổng hấp dẫn mới cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để sản xuất NLSH.

Khác với nhiên liệu hoá thạch (than, xăng...), NLSH là một loại năng lượng tái tạo được. NLSH góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. NLSH làm giảm ít nhất 60% lượng carbon thải ra so với nhiên liệu hoá thạch. Riêng BD giảm 50% lượng CO và 78% lượng CO2 thải ra so với nhiên liệu hoá thạch, BD hoàn toàn không thải ra SO2 nhưng lại thải ra lượng N2O nhiều hơn so với diesel hoá thạch.

Tuy nhiên, NLSH lại có thể tạo ra nguy cơ về an ninh lương thực, ông Jean Ziegler, người phát ngôn về lương thực của Liên Hợp Quốc thậm chí còn kêu gọi tạm dừng sản xuất NLSH trong 5 năm để tránh một "thảm hoạ" về nạn đói. Tại Trung Quốc, có lẽ do phát triển NLSH nên giá ngô tăng cao liên tục, vì vậy họ đang điều chỉnh lại hướng phát triển NLSH. Ở nước ta, an ninh lương thực là ưu tiên số 1 trong chính sách sử dụng đất, nên cần sáng suốt chọn lọc hướng phát triển NLSH. Nên chăng khuyến khích sản xuất NLSH loại thứ hai và thứ ba nói trên, chỉ sản xuất NLSH loại thứ nhất với chừng mực hợp lý. Hơn nữa nên hạn chế dùng đất nông nghiệp để trồng nguyên liệu cho NLSH (trong 20 năm qua đã có 3% đất nông nghiệp bị lấy để phát triển công nghiệp, dự báo đến 2020 con số này là 10%). Ở nước ta, để trồng cây cho NLSH (còn gọi là cây năng lượng, energy crops), cần tận dụng đất hoang hoá (khoảng 9,3 triệu hecta), đất đồi núi chưa sử dụng (có khoảng 4,3 triệu hecta) và rà soát lại 3 loại rừng để dành thêm đất cho rừng sản xuất. Ngoài ra hiện nay có 8,1 triệu hecta đất lâm nghiệp đã được giao phân tán, do đó cần có chính sách và phương thức thích hợp tích tụ đất lâm nghiệp để trồng cây năng lượng.

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN NLSH ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN 2020

- Đặt mục tiêu sản xuất xăng E10 (là loại xăng pha cồn với hàm lượng cồn tối đa là 10%, đáp ứng hoàn toàn mọi hoạt động bình thường của ôtô, xe máy) và dầu sinh học nhằm thay thế một phần nhiên liệu truyền thống hiện nay.

- Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất NLSH, xây dựng mô hình thí điểm phân phối NLSH tại một số tỉnh, thành phố; quy hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho năng suất cao phục vụ sản xuất NLSH; đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên sâu về kỹ thuật đáp ứng đủ trình độ trong quá trình phát triển NLSH.

- Giai đoạn 2011-2015, sẽ phát triển mạnh sản xuất và sử dụng NLSH thay một phần nhiên liệu truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới phân phối phục vụ cho giao thông và các sản xuất công nghiệp khác; đảm bảo cung ứng đủ và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu cho quá trình chuyển hóa sinh khối thành NLSH.

- Đến năm 2020, Việt Nam sẽ sản xuất được khoảng 5 tỷ lít xăng E10 và 500 triệu lít dầu sinh học bio-diesel B10/năm.