Bị đơn lập luận:
Nguyên đơn không có đủ tư cách để khiếu kiện bởi người mua theo hợp đồng Cty thương mại Mỹ. Hợp đồng được ký bởi XX chứ không phải là nguyên đơn.
Kết quả kiểm định của Toplis & Harding liên quan đến quy trình lấy mẫu và giám định hàng hoá, ngày cấp giấy chứng nhận giám định, phần nội dung giấy chứng nhận liên quan đến nơi bảo quản hàng hoá, chất lượng hàng, số lượng khách mua hàng và số hàng bán ra, ngày và số lượng hàng bị khách trả lại hoàn toàn mâu thuẫn với chứng cứđưa ra và trình bày của người đại diện Cty TM Mỹ. Ví dụ: giấy chứng nhận kiểm định nói 1.200 thùng cua đông lạnh và 1.952 thùng tôm muối đã được kiểm định, nhưng người đại diện của Cty TM Mỹ nói với Uỷ ban trọng tài là vào 25/7/1985, hàng đã được bán hết cho các khách hàng. Người đại diện Cty đính chính rằng 25/7/1985, một số khách hàng đã trả lại tôm đông lạnh. Nhưng người đại diện không thể nói rõ số lượng hàng thực tế đã bán và bị trả lại. Tuy nhiên, bản kê khai 25/10/1985 của kho bảo quản mà người đại diện trình lên Uỷ ban Trọng tài cho thấy rõ ràng 1.201 thùng cua đông lạnh Trung Quốc đã được đưa vào trong kho 16/7/1985, 200 thùng đã được bán 15/8, 200 thùng bán 16/8 và 200 thùng đã chuyển cho nguyên đơn 16/8. Ngày 19/8, khách hàng đã trả lại 200 thùng. Ngày 22/8, 200 thùng đã được chuyển cho nguyên đơn. Ngày 16/9, khách hàng đã trả lại 140 thùng. Ngày 23/9, 50 thùng đã được chuyển cho nguyên đơn. Với lịch mua bán và trả lại như trên, " Cty giám định không thểgiám định được tất cả 1.200 thùng cua đông lạnh". Trong giấy chứng nhận giám định, Cty giám định ghi 1.952 thùng tôm muối đã được kiểm tra. Tuy nhiên, Cty TM Mỹ đã fax cho bị đơn thông báo 1.163 thùng tôm đã bị tịch thu. Vì vậy, bị đơn đặt câu hỏi làm thế nào mà Cty giám định lại có thể kiểm tra được đến 1.952 thùng tôm muối còn lại, Ctygiám định đã kiểm tra bao nhiêu thùng tôm muối, kiểm tra ở đâu và vào khi nào. Hợp đồng quy định khiếu kiện về chất lượng, số lượng và trọng lượng của hàng hoá phải được đưa ra trong vòng 30 ngày sau khi hàng đến cảng. Sau khi nguyên đơn thông báo cho bị đơn về chất lượng hàng hoá qua điện thoại 20/8/1985, nguyên đơn lại fax cho bị đơn để phủ nhận thông báo đó. Bị đơn từ chối nhận hai bản fax và vì vậy, khiếu kiện của nguyên đơn về chất lượng hàng hoá nên bị bác vì đưa ra sau thời hạn quy định. Hợp đồng quy định chất lượng và trọng lượng hàng hoá phải được kiểm định bởi cơ quan kiểm định hàng hoá tại cảng xếp hàng.
Nguyên đơn khiếu kiện rằng 31/8/1985, 1.200 thùng cua đông lạnh và 1.952 thùng tôm muối đã được đưa đến bãi rác để huỷ. Nhưng 12/9, Michelson Laboratories ở Mỹ xác nhận là đã nhận được mẫu cua đông lạnh và tôm muối để kiểm định. Bản kê khai kho 25/10 cho thấy rõ ràng một số thùng cua đông lạnh đã được bảo quản trong kho cho đến 23/9. Thậm chí, năm 1986, nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn trả lại hàng. Những sự việc đó cho thấy sự không chính xác trong việc nguyên đơn đã huỷ hàng hoá, ngày và số lượng hàng hóa bị hủy. Nguyên đơn chỉ tuyên bố 1.200 thùng cua đông lạnh và 1.952 thùng tôm muối đã bị huỷ mà không có bên thứ ba độc lập làm chứng. Vì vậy không thể coi như chứng cứ .
Căn cứ vào những sự kiện trên, bị đơn cho rằng nên bác khiếu kiện của nguyên đơn.
(Còn tiếp)
Vũ Ánh Dương