Cứ đến mùa hè, dưới khung trời ngập màu phượng vĩ cùng tiếng ve bỏng rát những đường phố Hà Nội, nhiều cặp tình nhân bên nhau hay những người lang thang một mình trên phố lại nặng lòng với câu hát: Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi, cánh mỏng manh xao xác đỏ tươi, như nuối tiếc một thời trai trẻ...

Nhiều người cứ thắc mắc tại sao trong câu thơ của Thanh Tùng Như máu ứa một thời trai trẻ hay là vậy mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng lại thay bằng “nuối tiếc” trong ca khúc “Thời hoa đỏ”. Nghe vậy, ông chỉ cười: Cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn trong ca từ của mình lại ẩn chứa một nỗi buồn bi lụy...

Khi “sóng nhạc” bắt được “hồn thơ”

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mở đầu câu chuyện với tôi bằng ca khúc “Thời hoa đỏ”. Chuyện là, năm 1989, Hội Nhạc sĩ VN cử 4 nhạc sĩ sang Nga dự một trại viết, trong đó có ông. Không có giày lông, áo măngtô chỉ may bằng vải kaki không thể chống lại cái lạnh giá băng bên nước bạn, chỉ một tuần ông bị ho ra máu. Những người bạn Nga đưa ông đi cấp cứu và suốt 1 tháng trời nằm viện, xung quanh ít có người đồng hương, đồng ngữ, nên cái gì trước mắt cũng xa lạ, chỉ có nỗi buồn và nỗi cô đơn là gần gũi. Quá buồn bã, ông chợt lục trong balô của mình tập thơ “99 bài thơ tình” do một người bạn tặng để đọc cho khuây khoả. Đọc đến bài thơ có tên “Thời hoa đỏ” của nhà thơ Thanh Tùng, ông rất thích những câu thơ như thế này: Mỗi mùa hoa đỏ về/Hoa như mưa rơi rơi/Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/Như máu ứa một thời trai trẻ...


Trong xứ sở thiên thần của kỉ niệm, trong nỗi đau bất tận của con tim yêu như cánh phượng dù rơi rồi nhưng vẫn ứa đỏ những con phố, nhà thơ Thanh Tùng viết bài thơ Thời hoa đỏ để tưởng nhớ đến người bạn đời của mình đã “về nơi xa lắm”.


Ông chỉ cảm nhận những tình cảm của tác giả thơ qua câu chữ, còn lúc này ông chưa gặp Thanh Tùng, và bài thơ này Thanh Tùng viết cho ai. Trong tim ông, những nốt nhạc bắt đầu thốt ra, chậm rãi, nao nao như những tiếng bước chân vọng về từ quá khứ.

Bài hát ráo mực, ông ngồi hát một mình trên giường bệnh lòng cảm thấy nhẹ bẫng. Và nỗi buồn, nỗi cô đơn cả tháng nay bỗng dưng bay đâu mất và sau đó ông dần bình phục trở lại. Về nước, ông bắt tay vào việc thu âm ca khúc với tiếng hát Lệ Thu, giọng alto chuẩn, cách nhả chữ đều đặn, tròn trịa đã gợi được hình ảnh của những cánh phượng rơi và bước chân chậm rãi của đôi tình nhân dưới vòm lá kỉ niệm.

Qua giới thiệu của người bạn tặng ông tập thơ có bài “Thời hoa đỏ” thuở trước - nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, nhà thơ Thanh Tùng từ thành phố Hoa Phượng đỏ Hải Phòng lên Hà Nội gặp ông. Ca khúc “Thời hoa đỏ” đã từng được phát nhiều lần trên Đài Tiếng nói VN. Cũng hôm ấy, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mới biết, đây là bài thơ mà nhà thơ Thanh Tùng viết tặng người yêu, người bạn đời của mình đã bỏ lại kí ức đẹp và thời hoa đỏ diệu kì để về nơi xa lắc. Ca khúc “Thời hoa đỏ” được liệt vào một trong những tình ca hay nhất của ca khúc VN thời đổi mới.

Sống thật với mình, với cuộc đời

Sinh ra từ vùng quê chiêm trũng của tỉnh Hà Nam, 9 tuổi ông theo gia đình sang sống ở Thái Bình. Tuổi thơ của ông là những năm dài đi đánh dậm, đơm con tép bắt con cua, đói khổ thế, nhưng bù lại, những làn điệu chèo của quê lúa dần ngấm vào máu thịt ông.

Năm 1950, học hết trung học cơ sở, ông lên Hà Nội học lớp nhạc công. Trong lớp ấy, mỗi mình ông về Nhà hát chèo làm Nhạc công, còn cả lớp đi thành lập Đoàn chèo Phú Thọ. 10 năm làm nhạc công, ông học được nhiều điều, ở nhiều con người, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc cổ truyền. Và cũng trong 10 năm ấy, ông đã có được một mối tình đẹp với con gái của nhà văn Hàn Thế Du, tác giả của các vở chèo “Lưu Bình - Dương Lễ”, “Xúy Vân”... và là người từng được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn những năm 36-38 với truyện dài “Bóng mây chiều”.

Năm 1967, ông đi biểu diễn cùng Nhà hát chèo phục vụ bộ đội và TNXP trên con đường Trường Sơn huyền thoại suốt 6 tháng. Từ ngã ba Đồng Lộc đến đèo Đá Đẽo hay bến phà Gianh, chiến tranh qua đi đọng lại trong ông là kỉ niệm những tháng ngày không quên. Đó cũng là một thời hoa đỏ diệu kì của ông, một quá khứ mãi thổn thức trong trái tim người nghệ sĩ nặng tình này. Ông nghĩ rằng, 10 năm làm một nhạc công lặng lẽ trên sân khấu vậy là đủ, ông muốn đi học Tổng hợp văn nhưng ông Hoàng Kiều - Giám đốc nhà hát lại khuyên ông nên đi theo âm nhạc. Ông thi vào khoa sáng tác, học khóa 1973-1978 của Trường âm nhạc VN (Nhạc viện quốc gia Hà Nội bây giờ), trở thành một nhạc sĩ cho đến bây giờ.

Một tuổi thơ tự lập, một đời trai tự huyễn..., ông sống rất thật và trách nhiệm với từng nốt nhạc. Cũng như có lần ông từng nói: “Học nhiều hay học ít, kĩ thuật thế nào tùy ở từng người tích lũy. Nhưng bài hát có tồn tại hay không là ở chỗ nó có tình người hay không, nó đòi hỏi người nhạc sĩ phải sống thật với chính mình, với cuộc đời. Điều này vừa là trời phú, nhưng cũng vừa là trời đày đấy!”.