2.Về số tiền thiệt hại NĐ đòi: Về 83.185 USD là giá trị lô hàng bị từ chối nhận:Tuy nhhiên, NĐ không chứng minh thiệt hại thực tế phát sinh, không cung cấp các chứng từ làm bằng chứng cho thiệt hại mà coi trị giá lô hàng bị từ chối nhận là thiệt hại để đòi BĐ bồi thường.Nhưng trong trường hợp này giấy gói kẹo được sản xuất ra đã mang nhãn, tên cụ thể nên NĐ không thể bán cho ai khác, bởi không ai có thể sử dụng được, trừ BĐ. Vì thế, NĐ có quyền đòi BĐ trả tiền toàn bộ trị giá lô hàng với điều kiện là NĐ phải giao lô hàng đó cho BĐ. Vì lô hàng còn đang nằm trong kho của NĐ nên UBTT quyết định buộc BĐ bồi thường cho NĐ trị giá lô hàng là 77.705 USD chứ không phải là 83.185 USD như NĐ đòi, đồng thời buộc NĐ phải giao lô hàng ứng với 77.705 USD theo điều kiện CIF Hải Phòng trừ khi BĐ không muốn nhận nữa. Về số nguyên liệu dự trữ trong kho: Theo bản fax ngày 15/9/1996 của NĐ gửi cho BĐ thì số nguyên liệu có trị giá 39.989 USD đã được NĐ dùng vào sản xuất ra thành phẩm có trị giá là 77.705 USD nhưng chưa giao được. Như vậy, trị giá của số nguyên liệu này đã nằm trong trị giá của lô hàng bị từ chối nhận, do đó NĐ không có căn cứ hợp lý để đòi bồi thường số tiền này. Từ đó, UBTT bác yêu cầu đòi bồi thường của NĐ. Về chi phí chung: Chi phí pháp lý cho vụ kiện như chi phí tư vấn pháp lý, chi phí thuê luật sư, NĐ có quyền đòi BĐ bồi thường nhưng đã không xuất trình các chứng từ chứng minh, cũng không chỉ ra được chi phí cụ thể là bao nhiêu trong số 20.000 USD. Chi phí do mất thời gian là chi phí gì, gồm bao nhiêu. Do vậy, UBTT bác yêu cầu đòi bồi thường chi phí chung.

3.Về việc giao hàng chậm của NĐ: NĐ đã giao chậm cả lô hàng theo Annex (giao chậm đợt một), hơn nữa còn giao thiếu hàng trị giá 5.820 USD. Tại phiên họp xét xử, NĐ trình bày nguyên nhân giao hàng chậm là do BĐ đề nghị tăng lượng hàng. UBTT không chấp nhận vì NĐ không có văn bản đồng ý tăng số lượng và hai bên cũng không sửa đổi số lượng của Annex 1. Vì vậy, NĐ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc giao hàng chậm gây ra. NĐ đã giao chậm lô thứ hai (thuộc đợt hai) là 24 ngày, giao thiếu hàng trị giá 11.641 USD, nhưng không chứng minh được là đã có căn cứ miễn trách thì NĐ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại phát sinh.

4.Về 398.862.000 VND do giao chậm và giao thiếu hàng đợt một: UBTT xác định được rằng việc giao chậm và giao hàng thiếu của NĐ chỉ làm cho BĐ ngừng sản xuất trong 6 ngày, không sản xuất được 11.720 kg kẹo để giao đủ cho khách hàng nội địa. Từ đó, UBTT tính số tiền thiệt hại thực tế, hợp lý mà BĐ đang phải chịu là 57.380.200 VND và quyết định buộc NĐ phải bồi thường số tiền này cho BĐ.Về 502.585.000 VND do giao chậm và giao thiếu hàng đợt hai: UBTT xác định rằng việc giao hàng chậm và giao thiếu hàng của NĐ làm cho BĐ không thực hiện được kế hoạch SX và tiêu thụ trong thời gian 30 ngày, không sản xuất được 47.620 kg kẹo để giao cho khách hàng nội địa. UBTT quyết định buộc NĐ phải bồi thường cho BĐ 227.197.000 VND và bác các yêu cầu còn lại của BĐ.

Bình luận và lưu ý: Khi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm luôn nêu ra các lý do để thoái thác trách nhiệm, kể cả lý do chủ quan và khách quan. Do vậy, bên bị vi phạm phải căn cứ vào hợp đồng và luật áp dụng cho hợp đồng để bác những lý do đòi miễn trách không xác đáng. Chỉ khi nào việc vi phạm hợp đồng do chính những căn cứ miễn trách được qui định trong hợp đồng hoặc trong luật gây nên thì bên vi phạm mới được miễn trách nhiệm.

Vũ Ánh Dương