Theo quy định, các bản giao dịch này phải có đầy đủ chữ ký của hai bên. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc ông Y không ký không làm thay đổi bản chất của vấn đề vì rõ ràng là yêu cầu về một thoả thuận bằng văn bản và được ký chủ yếu nhằm bảo vệ bên không muốn bị ràng buộc mà chữ ký bị thiếu lại là chữ ký của nguyên đơn.

Sau đó đáng ra họ phải xác nhận lại thoả thuận của mình bằng cách trao đổi các tài liệu bằng văn bản phù hợp với Điều 2 thoả thuận. Như vậy, về nguyên tắc, các bản telex và fax không đáp ứng được các yêu cầu về hình thức để được coi là "sửa đổi bằng văn bản" đối với thoả thuận.

Về vấn đề thứ hai:

Thoả thuận đại diện là một hợp đồng hợp tác theo đó các bên cùng theo đuổi một mục đích chung: đạt được nhiều hợp đồng bán hàng với các khách hàng do bên đại diện giới thiệu cho bên được đại diện. Vì thế trong hợp đồng này tồn tại nghĩa vụ hợp tác giữa nguyên đơn và bị đơn, một nghĩa vụ giống như nghĩa vụ ràng buộc các cổ đông trong một cty với nhau hoặc giữa người đại diện và người được đại diện. Nghĩa vụ hợp tác này buộc bị đơn ít ra cũng phải có những bảo lưu đối với nguyên đơn để nguyên đơn có thể tiến hành một số hành vi mà nguyên đơn không được uỷ quyền. Như vậy, việc nguyên đơn giới thiệu cho bị đơn khách hàng nước Lebanon cũng có thể được coi như một trường hợp "bảo lưu" và có thể chấp nhận được.

Về vấn đề thứ ba:

Bản thân các bản telex và fax trong vụ việc này không tạo thành một thoả thuận minh thị về việc bị đơn chấp thuận sẽ trả tiền hoa hồng. Tuy nhiên, thực tế các hoá đơn giao hàng của ba giao dịch bán hàng có liên quan đã được gửi kèm theo văn thư này và người ta sẽ không thể giải thích tại sao những hoá đơn này lại được ông X gửi cho nguyên đơn. Từ hành vi này có thể suy ra ý định trả tiền hoa hồng cho nguyên đơn cho ba giao dịch này của bị đơn dù khách hàng có các trụ sở đăng ký ngoài "lãnh thổ được phép thực hiện dịch vụ".

Luật Thuỵ Sĩ thừa nhận nguyên tắc phê chuẩn các giao dịch hợp pháp bằng hành vi cuối cùng, ngay cả trong trường hợp các giao dịch này vốn không hợp pháp về mặt hình thức, và thậm chí ngay cả khi chúng có lỗi lớn. Theo án lệ của Thuỵ Sĩ bên không muốn bị ràng buộc bởi một thoả thuận chỉ cần tuyên bố phản đối trong thời hạn là một năm. Do đó, theo Luật Thuỵ Sĩ một thoả thuận được giao kết với lỗi nghiêm trọng vẫn có thể được coi là có hiệu lực chỉ vì lý do không có bên nào phản đối thoả thuận đó. Luật Nghĩa vụ Thuỵ Sĩ cho phép việc phê chuẩn các thoả thuận vô hiệu hay thậm chí bất hợp pháp đơn giản chỉ bằng một hành vi ngầm hiểu có giá trị như một sự phê chuẩn. Về ba giao dịch đã thực hiện này, bị đơn đã chấp nhận khách hàng mà không đưa ra bất kỳ điều kiện bảo lưu gì đối với nguyên đơn. Thoả thuận này trên thực tế đã được sửa đổi trong phạm vi ba giao dịch.

Tuy nhiên, từ các bản Telex được trao đổi giữa các bên thì cũng không thể suy ra là họ đã từng có ý định mở rộng thoả thuận của họ sang Lebanon. Nói cách khác, bị đơn chưa bao giờ chấp thuận sẽ trả tiền hoa hồng cho nguyên đơn cho tất cả các giao dịch mà nguyên đơn có thể tiến hành với một khách hàng Lebanon bất kỳ.

Vì vậy, có thể kết luận rằng giữa các bên đã có sửa đổi về phạm vi lãnh thổ "được phép thực hiện dịch vụ" đối với thoả thuận nhưng chỉ giới hạn ở ba hợp đồng.

Vì vậy, Uỷ ban Trọng tài đã bác lý lẽ của cả hai bên.

Bình luận và lưu ý:

Ngày nay hiện tượng giao kết hợp đồng hay thoả thuận thông qua các phương thức kỹ thuật như telex, fax, thư điện tử... đã trở nên khá phổ biến. Tuy nhiên, quy định của các nước về giá trị pháp lý của các hình thức này vẫn còn nhiều khác biệt. Vì thế, để bảo đảm giá trị và tính an toàn pháp lý cho các giao dịch của mình, khi tiến hành giao dịch thông qua telex, fax hay các phương thức kỹ thuật khác, các bên cần xác nhận lại bằng văn thư chính thức tuân thủ các hình thức yêu cầu như chữ ký, dấu...

Khi có nghi ngờ hay phản đối gì về giá trị pháp lý của giao dịch mà mình đã ký kết thì cần nêu/tuyên bố phản đối trong thời hạn do luật quy định, nếu luật không quy định thời hạn thì phải trong thời hạn hợp lý. Sự im lặng hay việc tiếp tục thực hiện giao dịch, theo pháp luật của nhiều nước, được coi như một "sự phê chuẩn" đối với giao dịch đó và là một hình thức hợp pháp hoá giao dịch đó ngay cả khi giao dịch ban đầu có khiếm khuyết hay thậm chí trái pháp luật.

Hoàng Lê Hằng