Đây là vấn đề được các DN hoạt động xuất nhập khẩu quan tâm và đang được đặt ra để xem xét tính hiệu quả và đảm bảo yêu cầu quản lý.
Theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, các DN được hưởng thời gian ân hạn thuế (chưa phải nộp thuế ngay) khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (tuỳ loại hình XNK cụ thể). Quy định này đã phát huy tác dụng trong thực tế, tạo điều kiện cho DN trong điều kiện thiếu vốn để kinh doanh sản xuất.
Thực chất đây là quy định cho phép DN được nợ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trong thời hạn nhất định. Quy định về thời gian ân hạn thuế được thực hiện trong nhiều năm qua và từng bước được bổ sung những quy định cụ thể hơn. Từ 1/1/2006 việc thực hiện ân hạn thuế được thực hiện đối với các DN chấp hành tốt pháp luật về hải quan. Từ 1/7/2007 Luật Quản lý Thuế có hiệu lực trong đó có quy định các điều kiện ràng buộc đối với DN muốn được ân hạn thuế. Do đó quy định về ân hạn thuế cũng đã phát huy tác dụng, phần nào đã làm giảm số nợ thuế do ngành Hải quan quản lý.
Thực tế cho thấy do được hưởng thời gian ân hạn thuế nên bên cạnh các DN tích cực nộp thuế đúng hạn, nhiều DN lợi dụng chính sách ưu đãi này để nợ đọng thuế chây ỳ. Nhiều DN sau khi được thông quan hàng hóa thì bỏ trốn, mất tích, hoặc giải thể, phá sản và... "ẵm" luôn khoản thuế nợ. Quy định về ân hạn thuế kéo theo đó là khối lượng công việc lớn với bộ máy trong cơ quan Hải quan để quản lý, theo dõi nợ đọng thuế. Tính đến 31/5/2008, số nợ thuế đối với hàng hóa XNK của DN do ngành Hải quan quản lý khoảng hơn 4.400 tỷ đồng. Mặc dù số nợ này xét về tổng thể đã giảm gần 240 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2007 nhưng đây vẫn là số nợ thuế lớn. Trong đó đáng chú ý là nợ của các DN giải thể, mất tích tăng 362 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2007.
Để hạn chế số thuế nợ đọng và thu hồi nợ, hiện nay cơ quan Hải quan thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định tại điều 93 Luật Quản lý Thuế. Theo đó, người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm về thuế đã quá 90 ngày (kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nộp phạt) sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Song trên thực tế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế còn nhiều khó khăn, bất cập. Chẳng hạn việc xác minh các điều kiện để thực hiện các biện pháp cưỡng chế gặp khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa ngành Hải quan và các ngành liên quan như ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cơ quan thuế, cơ quan cấp đăng ký kinh doanh....
Muốn quản lý nợ thuế của DN có hiệu quả, việc nắm được "trích ngang" của DN đóng vai trò quan trọng. Song hiện nay cơ quan Hải quan vẫn còn thiếu thông tin về người nộp thuế hoặc có thông tin nhưng chưa chi tiết, cụ thể hoặc đã lạc hậu. Một khó khăn nữa trong thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế là cơ quan Hải quan còn thiếu lực lượng để thực hiện các biện pháp như kê biên tài sản hoặc thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế. Một vấn đề quan trọng khác là chưa có quy định về biện pháp xử lý đối với các DN bỏ trốn, mất tích... Chính vì những khó khăn đó nên trên thực tế đến nay biện pháp chủ yếu mà cơ quan Hải quan thực hiện là tạm dừng làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa nếu DN có nợ thuế quá hạn 90 ngày.
Từ thực tế trên, một trong những vấn đề đặt ra là cần xem xét lại hiệu quả của chính sách về ân hạn thuế. Bên cạnh việc ngành Hải quan tiếp tục đề ra nhiều biện pháp hiệu quả về quản lý nợ thuế cũng như quyết liệt thu hồi nợ đọng thuế cho ngân sách, có ý kiến cho rằng trước mắt cần chuyển dần một số loại hình hàng hóa XNK, đối tượng DN phải nộp thuế trước khi giải phóng hàng. Bên cạnh đó quy định về điều kiện được hưởng ân hạn thuế chặt chẽ hơn. Về lâu dài, cần xem xét và đề nghị Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ, Quốc hội xem xét bỏ thời gian ân hạn thuế, nếu DN muốn được ân hạn thuế phải có bảo lãnh của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng nếu bỏ ân hạn thuế thì các DN sẽ gặp khó khăn về vốn trong kinh doanh sản xuất. Đây là vấn đề đang được cơ quan chức năng xem xét, cân nhắc.
Đức Tâm