Với những động thái hiện nay có đủ căn cứ để cho rằng, tiếp theo một năm "được mùa" kỷ lục trước thềm WTO, FDI sẽ là nguồn động lực chủ yếu để nền kinh tế nước ta tăng tốc trong năm 2007 này, mà rất có thể là trong nhiều năm nữa.

Có lẽ, sẽ không hề quá lời khi cho rằng những con số về lượng FDI thu hút được trong những tháng cuối năm 2006 khiến hết thảy chúng ta đều hân hoan. Đó là, con số 8,5 tỷ USD do chính Bộ trưởng KH - ĐT đưa ra hồi hạ tuần tháng 11, nhưng hầu như ngay lập tức "bị đổ" bởi thông tin tăng lên 9,6 tỷ USD và cuối cùng chốt lại ở con số trên 10 tỷ USD. Đây cũng chính là số vốn FDI cao kỷ lục nước ta thu hút được trong gần hai thập kỷ qua và cũng là ngưỡng mà Bộ trưởng cho là sẽ đạt được trong năm nay.

Hơn cả mong đợi

Không chỉ có vậy, có hai căn cứ sau đây để cho rằng, năm 2006 là năm đánh dấu bước ngoặt về chất của nguồn vốn này.

Trước hết, theo lời của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư: "Tín hiệu đáng mừng là trong số hơn 8,5 tỷ USD (dự kiến cả năm 2006) vốn đầu tư nước ngoài này, phần lớn là đến từ các nước, các khu vực có trình độ phát triển cao, đặc biệt là Nhật Bản và Mỹ. Sự khác biệt nữa là năm 2006, mặc dù số vốn đăng ký lớn nhưng số thực hiện chưa cao vì nhiều nhà đầu tư không đủ tiềm năng, còn số vốn đăng ký năm nay hầu hết là từ các nhà đầu tư lớn, có tiềm năng; thậm chí là những tập đoàn hàng đầu thế giới".

 


 

* Việc gia nhập WTO tạo điều kiện thuận lợi cho dòng đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp đổ vào VN.

* Đầu tư nội địa và ngành công nghiệp chế biến tăng mạnh giúp tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đạt trên mức 8% trong năm 2006. Nguồn vốn FDI, nguồn xuất khẩu và đầu tư vào cơ sở hạ tầng cao do có sự hỗ trợ của việc gia nhập WTO có thể giúp giữ vững tốc độ tăng trưởng mạnh.

* Nguồn vốn của thị trường chứng khoán tăng nhanh đạt mức 22,7% GDP vào cuối năm 2006, vượt mục tiêu chính thức được đặt ra hồi năm 2003 là 10 - 15% GDP đến năm 2010.

* Vị thế quốc tế được tăng cường nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp tăng mạnh bất chấp việc tham hụt thương mại đang ngày càng tăng.

* Việc mở rộng thương mại và nới lỏng các hạn chế về nguồn vốn giúp các hoạt động tiền tệ trở nên thông thoáng hơn mặc dầu có những cảnh báo chính thức rằng tỉ giá?VND có thể sẽ bị hạn chế trong tương lai gần.

* Việc giá dầu và giá cả thực phẩm được bình ổn, tỉ lệ tăng trưởng tín dụng chậm chạp và thuế nhập khẩu thấp có thể giúp kiềm chế lạm phát bất chấp việc tăng lương tối thiểu và việc giảm giá điện, than và một số mặt hàng khác có thể làm tăng thêm sức ép về giá cả.

Trong chừng mực chúng ta còn ở nhóm nước có thu nhập thấp (dự kiến đến năm 2010) thì sức hấp dẫn đối với vốn FDI vẫn còn rất mạnh. Không những vậy, với nhịp độ tăng trưởng kinh tế như kế hoạch 5 năm hiện nay dự kiến, thì sức hấp dẫn này vẫn còn được duy trì tới khoảng giữa thập kỷ sau, bởi phải mất khoảng 10 năm thì chúng ta cũng mới đạt được trình độ phát triển của Trung Quốc năm 2005 (tính bình quân theo đầu người).

 

 


Bên cạnh đó, căn cứ để khẳng định rằng, nguồn vốn FDI thu hút được đã có sự thay đổi về chất chính là mục tiêu đầu tư mà các "đại gia" này hướng tới.

Những điều nói trên có nghĩa là, từ năm 2005 trở về trước, các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu nhắm vào lĩnh vực bất động sản, đầu tư vào nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, hoặc nhắm vào lĩnh vực công nghệ thấp, hướng vào sử dụng lực lượng lao động tay nghề thấp, giá rẻ như dệt may, da giày, trong đó thực chất là biến những ngành này thành những công xưởng của những người thợ thủ công gia công hàng hoá cho các ông chủ đích thực hưởng lợi trên thị trường thế giới. Trong khi đó, với cơ cấu đầu tư hiện nay, đầu tư nước ngoài đã bắt đầu chuyển hướng vào lĩnh vực công nghệ cao, cung ứng năng lượng... Dự án lắp ráp và kiểm định chip bán dẫn của "đại gia" Intel sẽ cho "ra lò" nhiều tỷ USD sản phẩm này, hoặc Canon cũng sẽ cung ứng cho thị trường khu vực và thế giới cả tỷ USD sản phẩm của mình, hoặc dự án liên doanh đầu tư Nhà máy điện Mông Dương II trị giá 1,4 tỷ USD... là những minh chứng cho sự chuyển hướng này.

Hãy còn rộng mở

Có thể nói, đất nước ta đang hội đủ cả ba yếu tố "thiên thời, địa lợi và nhân hoà" để tận dụng cơ hội ngàn vàng này.

Thứ nhất, cho dù hàng loạt thành tựu trong 21 năm đổi mới là rất to lớn, nhưng chính trình độ phát triển còn rất thấp của nền kinh tế nước ta mới là điều có ý nghĩa quyết định tạo ra lực hấp dẫn thu hút vốn FDI hết sức mạnh mẽ trong điều kiện nước ta trở thành thành viên WTO.

Trước hết, dưới con mắt của các tập đoàn đa quốc gia, với GDP bình quân đầu người mới đạt 638 USD năm 2005, xếp hạng 166 trong 208 quốc gia và vùng lãnh thổ của thế giới, thị trường nước ta được coi là một thị trường chưa khai phá. Bởi lẽ, do còn rất kém phát triển, cho nên cơ hội kinh doanh còn rất nhiều và việc nước ta gia nhập WTO có thể được coi như "chất xúc tác" làm cho việc khai thác những cơ hội đó thuận lợi hơn hẳn. Việc vô số các "đại gia" của hàng loạt nền kinh tế hùng mạnh trên thế giới đều có mặt trong tuần lễ APEC tháng 11/2006 trong bối cảnh thời hạn chúng ta trở thành thành viên WTO chỉ còn tính bằng tuần và sự thành công vượt quá xa những dự báo táo bạo nhất trong thu hút vốn FDI trong những ngày cuối năm vừa qua đủ chứng tỏ điều đó.

Trong khi đó, các yếu tố khác, như nền kinh tế đang trên đà tăng tốc nhanh, chính trị - xã hội ổn định, thị trường không nhỏ của trên 80 triệu dân, lực lượng lao động trẻ đông đảo... cho dù cũng hết sức quan trọng, nhưng cũng chỉ là tiền đề và những tiền đề này đã tồn tại từ lâu, nhưng ít được các tập đoàn đa quốc gia để mắt đến. Mặt khác, nếu so với Trung Quốc, "người khổng lồ" cũng có đầy đủ những yếu tố đó như chúng ta, thậm chí trong đó còn có nhiều yếu tố vượt trội và cũng đã có "chất xúc tác" WTO trước chúng ta 5 năm, nhưng do đã ở trình độ phát triển cao hơn chúng ta 2,81 lần và xếp hạng cao hơn chúng ta 46 bậc (năm 2005), đặc biệt là khả năng gia tăng nhanh khoảng cách này trong nhiều năm tới là hoàn toàn chắc chắn, cho nên đã nhanh chóng mất đi lợi thế của một quốc gia ở trình độ phát triển thấp như chúng ta. "Công thức" đầu tư Trung Quốc + 1 mà nhiều tập đoàn đa quốc gia gần đây bắt đầu lựa chọn chính là xuất phát từ thực tế này.

Thứ hai, có lẽ sẽ là không quá lời khi nói rằng chúng ta gia nhập WTO trong bối cảnh các cường quốc kinh tế thế giới, cũng như nhiều nền kinh tế hùng mạnh khác đang trong cuộc đua để củng cố vị thế của mình trong khu vực và châu lục.

 


 

Trong chừng mực chúng ta còn ở nhóm nước có thu nhập thấp (dự kiến đến năm 2010) thì sức hấp dẫn đối với vốn FDI vẫn còn rất mạnh. Không những vậy, với nhịp độ tăng trưởng kinh tế như kế hoạch 5 năm hiện nay dự kiến, thì sức hấp dẫn này vẫn còn được duy trì tới khoảng giữa thập kỷ sau, bởi phải mất khoảng 10 năm thì chúng ta cũng mới đạt được trình độ phát triển của Trung Quốc năm 2005 (tính bình quân theo đầu người).

 

 


Trước hết, theo lời lẽ rất ngoại giao của ngoại trưởng cường quốc kinh tế số 1 thế giới trước tuần lễ APEC Hà Nội ít ngày, "Mối quan hệ Việt - Mỹ sẽ trở thành một mối quan hệ rất rộng lớn... Chuyến thăm của Tổng thống Bush tới VN sẽ cực kỳ quan trọng đối với hai nước, nó chứng tỏ rằng VN có thể là một đối tác rất quan trọng đối với Mỹ và cũng là một đối tác rất quan trọng ở Châu á đối với Mỹ". Còn bà Charlene Barshefsky, cựu đại diện Thương mại Mỹ thời Tổng thống Clinton, người đã đặt bút ký Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ, thì ít ngoại giao hơn: "Nguyên nhân đáng chú ý nhất của chuyến đi này là việc VN đang ngày càng có vai trò tích cực hơn, tiếng nói có ảnh hưởng hơn trong ASEAN. Trong khi đó, Mỹ luôn chú ý đến các quốc gia giúp thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ và VN là một lựa chọn tất nhiên cho vị trí này".

Thế nhưng, ẩn phía sau những nhận định trên chắc chắn là nguyên nhân đích thực của tình hình. Đó là, theo đánh giá của Giám đốc Hội đồng Mậu dịch Mỹ - ASEAN: "Chưa có bao giờ Mỹ lại thiếu tập trung vào ASEAN như bây giờ, trong khi Trung Quốc lại rất quyết tâm và có vẻ như đã thiết lập được địa vị của một "đại cường" trong vùng "ASEAN lục địa".

Không chỉ có vậy, bên cạnh đó chính là những bước đi chiến lược trong việc thắt chặt quan hệ Việt - Nhật không thể không khiến cho Mỹ phải "nhanh chân hơn". Bởi lẽ, dưới con mắt của bà Charlene Barshefsky: "Về chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Nhật Bản và chuyến thăm Hà Nội của Thủ tướng Shinzo Abe..., tôi có thể nói rằng, bởi Nhật Bản đang nhìn khu vực với con mắt chiến lược. Những việc làm của Nhật Bản tại khu vực này một phần bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc". Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, trong khi Mỹ đã "chậm chân", thì Nhật Bản có những bước đi vững chắc, còn Trung Quốc cũng đã và chắc chắn sẽ còn mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực.

Trong bối cảnh như vậy, nằm ở vị trí cửa ngõ của Trung Quốc ở phía Nam, với thị trường quy mô 84 triệu dân và sẽ còn lớn hơn nữa chưa được khai phá, tình hình chính trị - xã hội ổn định, nền kinh tế đang trên đà cất cánh khi chúng ta gia nhập WTO... đây chính là thời cơ không thể nào tốt hơn để các cường quốc kinh tế thế giới tăng tốc đầu tư vào nước ta nhằm củng cố vị thế của mình trong khu vực và châu lục. Việc Thủ tướng nước ta hi vọng Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà đầu tư số 1 tại VN trong những năm tới, còn ở mốc 2010 là con số 15 tỷ USD, còn Nhật Bản cũng đặt mục tiêu nhanh chóng tăng gấp đôi vốn đầu tư của mình lên 15 tỷ USD cũng vào thời điểm này và Trung Quốc cũng với mục tiêu tăng gấp rưỡi kim ngạch thương mại song phương lên 15 tỷ USD trong cùng kỳ là những biểu hiện của xu thế phát triển đó.

Bên cạnh những mục tiêu đó, những động thái gần đây cho thấy, những nền kinh tế hùng mạnh trong khu vực cũng như một số quốc gia khác cũng đã có những bước đi quan trọng để chiếm lĩnh thị trường chưa được khai phá của nước ta. Đó là những tập đoàn đến từ các con rồng Châu á như Hàn Quốc... và từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác với những dự án đầu tư khổng lồ. Tiêu biểu nhất ở thời điểm hiện tại có lẽ là kế hoạch đầu tư khổng lồ 5 tỷ USD của Tập đoàn Foxconn và 3 tỷ USD của Honhai (Đài Loan), hoặc dự án đầu tư cũng khổng lồ 2 tỷ Euro là của Tập đoàn ủy thác Trustee Suisse Thuỵ Sĩ...

Nói tóm lại, không chỉ những thành tựu to lớn trong 21 năm đổi mới của nước ta tạo ra hấp lực mạnh mẽ hút vốn FDI đổ vào, mà những động thái trong khu vực đã "khuếch đại" hấp lực này. Do vậy, vấn đề chỉ còn tuỳ thuộc vào việc những nỗ lực phấn đấu của chúng ta có đủ để tiếp nhận được những nguồn vốn đầu tư khổng lồ này hay không.

* Ngày 12/2/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN. Theo đó, trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến của Bộ Thương mại, UBND cấp tỉnh quyết định việc cấp giấy phép kinh doanh cho DN. Ngoài ra, DN có vốn đầu tư nước ngoài có quyền phân phối được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất mà không phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định của nghị định này.

Nghị định 23/2007/NĐ-CP cũng quy định rõ thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy phép kinh doanh cho DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN. Cụ thể, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của DN theo quy định, cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung Giấy phép kinh doanh nếu đề nghị sửa đổi, bổ sung đó phù hợp với pháp luật VN và Điều ước quốc tế mà VN là thành viên. Trường hợp không chấp thuận sửa đổi, bổ sung Giấy phép kinh doanh, cơ quan cấp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho DN biết.

* Các tập đoàn lớn trên thế giới coi VN là điểm đến hấp dẫn. Trong đó, điển hình nhất là dự án khổng lồ 1 tỷ USD của Intel tại TP HCM, dự án lớn nhất của tập đoàn này ở nước ngoài và dự án 300 triệu USD của Canon ở phía Bắc Nhật Bản cũng là cơ sở sản xuất lớn nhất của tập đoàn này trong khu vực.