Nhìn tôm nhảy lao xao lách tách trong thùng tôn, trong rổ sảo, mới thấy từng ô nước mặn đất Bãi Triều quê tôi lặng lẽ lấp lánh ánh sao đêm kia quả là một thứ hồi môn của đất trời.
Anh Hưng vừa hạ chiếc đó tre gác trên ngọn đăng xuống nước, vừa nói với tôi: Đây là vụ tôm xuân hè. Cũng là vụ chính. Thu xong lại làm vệ sinh môi trường đầm, đưa tiếp tôm giống về nuôi vụ đông. Một năm hai vụ xoay đi giở lại cũng khướt lắm bác ạ! Dịp này chúng em không được về nhà, phải trực cả đêm theo nước thuỷ triều để đánh bắt. Chờ nước ngoài sông lên to rồi tháo “mồi” qua cống làm dịu nước trong đầm cả ngày nắng nóng. Sau đợt triều rút mới tháo cống. Con tôm sú hay đi mạnh vào ban đêm. Tuỳ từng đầm, cứ một tiếng hoặc tiếng rưỡi đồng hồ, đóng cống nhấc túi một lần. Đơm đó thì từ lúc mặt trời lặn còn bằng ngọn sào; qua đêm đến ba, bốn giờ sáng đi đổ là vừa. Khi gió heo may se lạnh không gian cũng là lúc rộ mùa thu tôm. Các đầm tấp nập giăng đặt phương tiện đánh bắt và tăng cường nhân lực bên các chặng đăng đó, trên các cống bến. Từng đoàn thuyền nan, thuyền lẵng, tàu thu mua thuỷ sản dập dìu trên sóng nước. Tiếng người “họp chợ” nghe om om trong sương sớm.
Nằm trên khu vực cửa sông Bạch Đằng được bồi tụ, có vùng bãi triều rất lớn và ngày càng mở rộng, đến nay huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) có khoảng 13.000 ha bãi triều. Đã đắp đê bao khoanh vùng thành các đầm nuôi thuỷ sản (tôm, cua, cá, rong câu) được 7.047 ha. Ở Yên Hưng, dân Hà Nam có gan lấn biển đắp đầm từ lâu theo truyền thống của các vị Tiên Công đầu thế kỷ XV từ Kinh thành Thăng Long xuôi sông Hồng, sông Bạch Đằng ra cửa biển, phát hiện và khai thác vùng đất này. Trước những năm 1940, đã có một số nhà giàu ở các làng “Tứ xã” và thôn Vị Dương mang người, mang thuyền sang bãi Nhà Mạc phía Tây đảo Hà Nam cắm chốt, khoanh các dòng lạch để đắp đầm, đánh bắt tôm cá tự nhiên. Bây giờ vẫn còn dấu tích đầm ông Tổng Nhận, đầm ông Tổng Tiến, ông Chánh Vinh... nằm trong các khu vực đầm của Yên Đông, Hải Yến, Vị Dương bên sông Rút, sông Ruột Lợn... Cha tôi hồi ấy làm lý trưởng làng Cẩm La cũng là người đầu tiên dám thí sức thí của đắp đầm Nhà Mạc. Thủơ ấy, đầm chỉ là gợn bờ bao quanh mỏng mảnh, chẳng khác gì cái bánh đa nổi trên mặt nước, thấm chìm bất cứ lúc nào. Vậy mà ông vẫn tháo được nhiều tôm rảo, cá vược, cá tráp, nhiều cua bể... nhưng giá rẻ như bèo.
Năm 1974, những hòn đất đầu tiên ném xuống bãi triều có Nhà nước, có dân ủng hộ. Các xã Yên Hải, Liên Vị, Phong Cốc bỏ rất nhiều công của, mồ hôi và cả máu, để được những vùng đầm lớn đầu tiên trước sóng gió. Các đầm nối lại thành hệ thống đầm Nhà Mạc phía Tây Yên Hưng. Mười lăm năm sau, hệ thống đầm phía Đông Yên Hưng tiếp tục ra đời. Nhưng chủ yếu là khoanh vùng rộng, lắp cống tiêu tháo nuôi trồng, đánh bắt tự nhiên. Làm ăn không tránh khỏi thua lỗ của thời bao cấp. Cũng có người, có xã thất bại, bỏ của chạy lấy người.
Năm 1995, tôm sú lên ngôi, được đưa vào nuôi trồng khảo nghiệm và cho kết quả khả quan. Từ 1996 đến nay, phong trào phát triển mạnh mẽ ở các đầm Nhà Mạc, Kênh Tráp, Kênh Giang. Dân làm đầm nuôi tôm sú ngày một nhiều. Không chỉ 8 xã làng đảo Hà Nam, mà còn cả các xã Hà Bắc. Quy mô sản xuất ngày một nâng cao. Toàn huyện có hơn bốn trăm chủ đầm nuôi tôm sú. Lớn nhất là một, hai trăm ha. Nhỏ nhất cũng hai, ba ha. Còn phổ biến là ba chục ha trở lên. Trong đó có bảy mươi sáu chủ đầm đạt hiệu quả cao, thu lãi ròng hàng năm từ ba mươi đến một trăm triệu đồng trở lên.
Với 180 ha, ông Đỗ Hữu Tờ là một trong những người có đầm lớn nhất huyện và nuôi tôm sú thành công đầu tiên. Từ một chàng trai chuyên đưa tàu đi thu mua thuỷ sản, ông nghĩ: Phải tự mình nuôi trồng được thuỷ sản thì mới khai thác được tiềm năng và làm giàu từ đất bãi triều. Không để phí từng lạch cái, từng mét nước biển mặn mòi kia! Ông đã trở thành chủ đầm và trải qua mười vụ tôm sú - mười vụ khai thác vàng từ biển. Trừ chi phí vốn liếng đầu tư, ông thu lãi trung bình mỗi năm trên dưới một tỷ đồng. Ông cho biết: Hiện tại, nguồn tôm giống ở miền Bắc không có đủ cho các đầm. Các chủ đầm phải vào tận miền Trung, miền Nam để mua và mời kỹ sư về hợp tác. Con tôm sú giống P15, P45 phải lên máy bay, lên tàu hoả về Yên Hưng!...
Suy nghĩ của tỷ phú làng Liên Vị đã được các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý nắm bắt được và đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 17 năm 2000 thông qua chương trình phát triển mũi nhọn kinh tế thuỷ sản đầu thế kỷ 21: “Tiếp tục tranh thủ dự án của tỉnh, của TƯ và nước ngoài về sản xuất tôm giống tại Quảng Ninh phục vụ cho các cơ sở nuôi tôm ở Yên Hưng”. Một trung tâm giống và nuôi trồng thuỷ sản ở Yên Hưng đã ra đời tại Bến Giang đảo Hoàng Tân đã cho đẻ tại chỗ những triệu con tôm sú giống đầu tiên, tiếp đó là Xí nghiệp sản xuất tôm giống Đại Yên của Cty XK thuỷ sản 2 với công suất 100 triệu con/năm. Đã cung ứng được nhu cầu tôm giống cho các bà con nuôi tôm trong huyện, trong tỉnh và các nơi.
Năm 1999, Yên Hưng thả 25 triệu con tôm sú giống P15, thu trên 200 tấn, trị giá hơn 20 tỷ đồng. Năm 2002 thả 150 triệu con, thu được 400 tấn trở lên, trị giá 45 tỷ đồng. Các đầm Hải Yến, Liên Vị phía Tây vẫn là những đầm thu cao hơn cả. Trong chương trình phát triển kinh tế - văn hoá xã hội đầu thiên niên kỷ mới, Yên Hưng phấn đấu đến năm 2005, mức tăng trưởng của XK thuỷ sản đạt 20 triệu USD (gần bằng tổng giá trị XK thuỷ sản hiện nay của tỉnh Quảng Ninh: 22 triệu USD). Để đạt mục tiêu đó, ngay từ bây giờ, huyện tiếp tục quy hoạch lại đất để nuôi theo công nghệ bán công nghiệp và công nghiệp; bảo vệ môi trường đầm sẵn có, chấn chỉnh việc đắp đầm tràn lan trái phép. Tạo điều kiện phát triển mạnh lực lượng nuôi trồng thuỷ sản trong huyện, đồng thời mở rộng thu hút lực lượng ngoài huyện, kể cả nước ngoài đầu tư cho kinh tế thuỷ sản trên địa bàn huyện. Đưa nhanh công nghệ tiên tiến vào nuôi trồng, phát triển mạnh tôm sú và hải sản có giá trị cao như: tôm rảo, tôm he, tôm càng xanh, cua, rau câu... Phấn đấu từ năm 2001 đến năm 2003 đưa vào nuôi tôm bán công nghiệp 1.000 ha, nuôi công nghiệp 300 ha, hai năm tiếp theo, nuôi bán công nghiệp 1.500 ha, nuôi công nghiệp 300 ha nữa... Những tin vui đến với người nuôi tôm: năm 2002 Cty XK thuỷ sản 2 thử nghiệm mô hình nuôi tôm công nghiệp thành công, 10 ha với 46 vạn con tôm sú; 6,34 triệu con tôm he chân trắng Nam Mỹ. Tổng số vốn đầu tư 6,03 tỷ đồng. Tháng 8 và 9 vừa qua thu được 39 tấn, năng suất đạt 5,5 tấn/ha, doanh thu đạt 2 tỷ đồng. Ông Ngô Duy Thức - Giám đốc Cty cho biết: kim ngạch XK của Cty năm ngoái đạt 14 triệu USD. Năm nay phấn đấu đạt 17 triệu USD.
Những ngày này, sang đầm Tân An, Hà An, Nam Hoà, Hải Yến... như đến một vùng trang trại. Ô đầm kẻ ngang dọc bàn cờ. Những ô nuôi tôm bán công nghiệp và công nghiệp le lói ánh điện trên mặt nước. Một vùng quê nữa đang phôi thai, hình thành như Thần Vệ Nữ trên cửa biển chào đón bình minh thiên nhiên kỷ thứ 3. Chúng tôi đến thăm đầm gia đình anh Minh Chi xã Tân An được biết từ năm 1999 gia đình anh thuê lâu dài 200 ha đầm bên sống Bến Giang. Anh tập trung mọi nguồn vốn tự có và vay ngân hàng đầu tư 3 tỷ đồng cho công trình trang trại nuôi tôm. Đầm của anh bắt đầu cho thu hoạch đáng mừng. Anh từ tốn nói với chúng tôi: Tuy thế nghề nuôi tôm còn phải gian khổ “phục kích” dài dài... Sẽ có cơ hội siêu lợi nhuận. Trước khi gửi bài viết này đi, tôi nhận được tin: mới tháng 7 đầu vụ thu tôm 2003 này, anh đã thu được gần 500 triệu đồng! Nếu cứ đà được mùa này, vụ tôm hè thu sẽ đạt mức khiêm tốn 1 tỷ đồng!
Lao động là sáng tạo. Người dân Yên Hưng tiếp tục lấy vàng lên từ đất bãi triều!
Dương Phương Toại